Bình luận về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Bình luận về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Thursday, 7 June 2012

TRUNG ĐẠO II




THUY‰T TRUNG ñO

Trung Đạo có  ba nghĩa. Nghĩa thnht, trung đạo là tránh mi cc đoan, mi thái quá trong cuc sng và trong viŒc tu tp.  Nghïa thÙ hai, trung Çåo là chánh Çåo. Và  nghïa thÙ ba là hòa h®p.
Trong các chÜÖng sau, chúng tôi xin trình bày vŠ š nghïa trung Çåo cûa ÇÙc PhÆt.





chÜÖng viIi.

tránh các c¿c Çoan

I. TRIT LÝ CHO M†I NGЩI
Tri‰t lš Trung ñåo trܧc tiên ÇÜ®c dåy cho chÜ tæng, sau dåy cùng v§i các ÇŒ tº tåi gia.XuÃt gia hay tåi gia ÇŠu có th‹ áp døng Trung Çåo trong viŒc tu tÆp và trong Ç©i sÓng thÜ©ng nhÆt.

1. NHẬN THỨC TRONG THỰC TIỄN

NgÜ©i ƒn ñ¶ cÛng nhÜ m¶t sÓ ngÜ©i các nܧc, khi nghe nói ljn viŒc tu hành là nghï ljn viŒc kh° hånh. Không kh° hånh thì không phäi là nhà tu hành. Ban ÇÀu, Ngài Çã theo con ÇÜ©ng kh° hånh, nhÜng  Ngài låi thÃy quan niŒm Çó sai lÀm.  Ngài tØ bÕ kh° hånh Ç‹ theo con ÇÜ©ng m§i, m¶t con ÇÜ©ng cách mång trong lŠ lÓi tu hành. Cu¶c cách mång này không phäi là do ki‰n thÙc suông  mà là do th¿c t‰ chÙng nghiŒm. Cuc đời ca đức Pht là mt minh chng cho điŠu này. Đức Pht đã t bcuc sng dt lc ca mt v đông cung thái t để đi cu đạo. 

Ban đầu Ngài theo truyn thng hành kh ca Bà La Môn giáo và dân tc n Độ. Thân hình m yếu, tinh thn hao mòn, Ngài vn không đạt được gii thoát. Ngài nghĩ rng vic hành xác không phi là mt phương pháp tt. ñó là m¶t cu¶c cách mång vŠ ÇÜ©ng lÓi tu tÆp, khác v§i truyŠn thÓng kh° hånh cûa ƒn ñ¶. Ngài bèn xung sông tm ra và dùng bát sa ca mt cô gái cúng dường.  Vì vy, Ngài đã chng ng. Điu này cho ta thy cuc sng quá sung sướng và quá cc kh đều là nhng cc đoan cn xa lánh.
            Ngài Çã nh¡c låi quá khÙ cûa Ngài khi còn là m¶t vÎ ñông cung thái tº:
Này các tÿ kheo, ta ÇÜ®c nuôi dÜ«ng t‰ nhÎ, tÓi th¡ng, nuôi dÜ«ng t‰ nhÎ, cÙu cánh nuôi dÜ«ng t‰ nhÎ. Này các t› kheo, trong nhà vÜÖng phø ta, các hÒ nܧc xây d¿ng lên, trong m¶t hÒ có hoa sen xanh, trong m¶t hÒ có hoa sen ÇÕ, trong m¶t hÒ có hoa sen tr¡ng. TÃt cä phøc vø cho ta. Không m¶t chiên Çàn nào ta dùng, này các tÿ kheo, là không tØ Kasi ljn. B¢ng väi Kasi là khæn cûa ta. Này các tÿ kheo, b¢ng väi Kasi là áo cánh, b¢ng väi Kasi là n¶i y, b¢ng väi Kasi là thÜ®ng y. ñêm và ngày, m¶t l†ng tr¡ng ÇÜ®c che chª cho ta Ç‹ tránh xúc chåm lånh, nóng, bøi, cÕ hay sÜÖng. Này các tÿ kheo, ba lâu Çài ÇÜ®c xây d¿ng cho ta, m¶t cho mùa Çông, m¶t cho mùa hå, m¶t cho mùa mÜa. Và ta, này các tÿ kheo, tåi lâu Çài mùa mÜa,  trong bÓn tháng, ÇÜ®c nh»ng nhåc công doanh vây, ta không có xuÓng lÀu. V§i ta, này các tÿ kheo ÇÜ®c ÇÀy Çû vŠ s¿ giàu sang nhÜ vÆy, ÇÜ®c cÙu cánh nuôi dÜ«ng t‰ nhÎ nhÜ vÆy (Tæng Chi I, 162-163)
ñÙc PhÆt cÛng thuÆt viŒc Ngài vào rØng sâu tu kh° hånh:
Này Sariputta, trong khi ta sÓng chÌ æn m¶t håt gåo, thân th‹ ta trª thành h‰t sÙc Óm y‰u.Vì ta æn quá ít, tay chân ta trª thành nhÜ nh»ng g†ng cÕ  hay nh»ng ÇÓt cây leo khô héo. Vì ta æn quá ít,  bàn trôn cûa ta trª thành nhÜ móng chân con låc Çà. Vì ta æn quá ít,  xÜÖng sÓng phô bày cûa ta giÓng nhÜ m¶t chu°i banh. Vì ta æn quá ít, xÜÖng sÜ©n gÀy mòn cûa ta giÓng nhÜ rui c¶t nhà sàn hÜ nát. [ .  . ].

Vì ta æn quá ít, da ÇÀu cûa ta trª thành nhæn nheo, khô c¢n nhÜ trái bí tr¡ng và Ç¡ng c¡t trܧc khi chín, bÎ cÖn gió nóng làm cho nhæn nhíu khô c¢n. Này Sariputta,  n‰u ta nghï ta hãy s© da bøng, chính da bøng bÎ ta n¡m lÃy. Vì ta æn quá ít, nŒn này Sariputta, da bøng cûa ta bám ch¥t xÜÖng sÓng [. . .]. Này Sariputta, n‰u ta ta Çi Çåi tiŒn hay Çi ti‹u tiŒn th©i ta ngã quœ, úp m¥t xuÓng vì ta æn quá ít. Này Sariputta, n‰u ta muÓn xoa dÎu thân ta, lÃy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hÜ møc røng khÕi thân ta, vì ta æn quá ít. Này Sariputta, dÀu ta có cº chÌ nhÜ vÆy, theo hånh l¶ nhÜ vÆy, theo kh° hånh nhÜ vÆy, ta cÛng  không chÙng ÇÜ®c các pháp thÜ®ng nhân, không có tri ki‰n thù th¡ng xÙng Çáng bÆc thành  (Trung Bộ kinh I, ñåi SÜ tº hÓng, 80-81)
NhÆn thÃy viŒc kh° hånh không mang låi l®i ích th¿c t‰, ÇÙc PhÆt bèn tØ bÕ ÇÜ©ng lÓi này, b¡t ÇÀu æn uÓng và t¡m rºa.
Này thÆt không dÍ gì chÙng Çåt låc th† Ãy v§i thân th‹ Óm y‰u kinh khûng nhÜ th‰ này.Ta hãy æn thô th¿c, æn cÖm chua. RÒi này, Aggivessana, ta æn thô th¿c, æn cÖm chua’’. ( Trung B¶ Kinh, ñåi kinh Sacca ka, 216B)
Tinh thÀn và th‹ xác liên hŒ v§i nhau. Nh© thân th‹ khÕe månh hÖn trܧc mà ÇÙc PhÆt chÙng ng¶. Ngài nói:
Và này Aggivessana, sau khi ăn thô thc và được sc lc tr li, Ta ly dc, ly pháp bt thin, chng và trú Thin th nht, mt trng thái h lc do ly dc sanh, có tm có t. Này Aggivessana, như vy lc th khi lên nơi Ta được tn ti nhưng không chi phi tâm Ta. Dit tm và t, chng và trú Thin th hai, mt trng thái h lc do định sanh, không tm, không t, ni tĩnh nht tâm. Này Aggivessana, như vy lc th khi lên nơi Ta, được tn ti nhưng không chi phi tâm Ta. Ly h trú x, chánh nim tnh giác, thân cm s lc th mà các bc Thánh gi là x nim lc trú, chng và trú Thin th ba. 
Này Aggivessana, như vy lc th khi lên nơi Ta, được tn ti nhưng không chi phi tâm Ta. X lc x kh, dit h ưu đã cm th trước, chng và trú Thin th tư, không kh không lc, x nim thanh tnh. Này Aggivessana, như vy lc th khi lên nơi Ta, được tn ti nhưng không chi phi tâm Ta. 
Vi tâm định tĩnh, thun tnh trong sáng không cu nhim, không phin não, nhu nhuyến, d s dng, vng chc, bình tĩnh như vy, Ta dn tâm, hướng tâm đến Túc mng minh. Ta nh đến các đời sng quá kh, như mt đời, hai đời, ba đời, bn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bn mươi đời, năm mươi đời, mt trăm đời, mt ngàn đời, mt trăm ngàn đời, nhiu hoi kiếp, nhiu thành kiếp, nhiu hoi và thành kiếp. Ta nh rng: 

"Ti ch kia, Ta có tên như thế này, dòng h như thế này, giai cp như thế này, th kh lc như thế này, tui th đến mc như thế này. Sau khi chết ti ch kia, Ta được sanh ra ti ch n. Ti ch y, Ta có tên như thế này, dòng h như thế này, giai cp như thế này, th kh lc như thế này, tui th đến mc như thế này". Như vy Ta nh đến nhiu đời sng quá kh cùng vi các nét đại cương và các chi tiết. Này Aggivessana, đó là minh th nht Ta đã chng được trong đêm canh mt, vô minh dit, minh sanh, ám dit, ánh sáng sanh, do Ta sng không phóng dt, nhit tâm, tinh cn. Như vy, này Aggivessana, lc th sanh nơi Ta được tn ti nhưng không chi phi tâm Ta. 
Vi tâm định tĩnh, thun tnh trong sáng không cu nhim, không phin não, nhu nhuyến, d s dng, vng chc, bình tĩnh như vy, Ta dn tâm, hướng tâm đến trí tu v sanh t ca chúng sanh. Ta vi thiên nhãn thun tnh, siêu nhân, thy s sng và chết c húng sanh. Ta biết rõ rng chúng sanh, người h lit k cao sang, người đẹp đẽ, k thô xu, người may mn, k bt hnh đều do hnh nghip ca h. Nhng chúng sanh làm nhng ác hnh v thân, li và š, ph báng các bc Thánh, theo tà kiến, to các nghip theo tà kiến; nhng người này, sau khi thân hoi mng chung, phi sanh vào cõi d, ác thú, đọa x, địa ngc. Còn nhng chúng sanh nào làm nhng thin hnh v thân, li và š, không ph báng các bc Thánh, theo chánh kiến, to các nghip theo chánh kiến; nhng v này sau khi thân hoi mng chung, được sanh lên các thin thú, cõi tri, trên đời này.

 Như vy Ta vi thiên nhãn thun tnh, siêu nhân, thy s sng chết c húng sanh. Ta biết rõ rng chúng sanh, người h lit, k cao sang, người đẹp đẽ, k thô xu, người may mn, k bt hnh, đều do hnh nghip ca h

Này Aggivessana, đó là minh th hai Ta đã chng được trong đêm canh gia, vô minh dit, minh sanh, ám dit, ánh sáng sanh, do Ta sng không phóng dt, nhit tâm, tinh cn. Như vy, này Aggivessana, lc th sanh nơi Ta, được tn ti nhưng không chi phi tâm Ta.
Vi tâm định tĩnh, thun tnh, trong sáng không cu nhim, không phin não, nhu nhuyến, d s dng, vng chc, bình tĩnh như vy, Ta dn tâm, hướng tâm đến Lu tn trí. Ta biết như tht: "Đây là Kh", biết như tht: "Đây là Nguyên nhân ca kh", biết như tht: "Đây là s Dit kh", biết như tht: "Đây là Con đường đưa đến dit kh", biết như tht: "Đây là nhng lu hoc", biết như tht: "Đây là nguyên nhân ca lu hoc", biết như tht: "Đây là s dit tr các lu hoc", biết như tht: "Đây là con đường đưa đến s dit tr các lu hoc". Nh biết như vy, nhn thc như vy, tâm ca Ta thoát khi dc lu, thoát khi hu lu, thoát khi vô minh lu. Đối vi t thân đã gii thoát như vy, Ta khi lên s hiu biết: "Ta đã gii thoát" Ta đã biết: "Sanh đã dit, phm hnh đã thành, vic cn làm đã làm, sau đời hin ti không có đời sng nào khác na". 

Này Aggivessana, đó là minh th ba mà Ta đã chng được trong canh cui, vô minh dit, minh sanh, ám dit, ánh sáng sanh, do Ta sng không phóng dt, nhit tâm tinh cn. Như vy này Aggivessana, lc th sanh nơi Ta, được tn ti nhưng không chi phi tâm Ta.
(Trung B¶ Kinh I, ñåi kinh Sacca ka, 216B)
            Con ÇÜ©ng tu tÆp cûa ñÙc PhÆt là do Ngài tâm cûa ngài nhÆn thÙc qua s¿ c† xát v§i th¿c t‰. ñ¡m say døc låc, con ngÜ©i cÛng nhÜ các loài không š thÙc. NhÜng chÎu kh° hånh trên con ÇÜ©ng tu tÆp cÛng không phäi là m¶t phÜÖng pháp tÓt. Vì vÆy ngài Çã ch†n trung Çåo, là không kh°, không låc. Do Çó Ngài Çã chÙng ng¶.
ThÃy ÇÙc PhÆt tØ bÕ kh° hånh, b†n næm ngÜ©i ông TrÀn KiŠu NhÜ tÕ thái Ƕ khinh thÎ vì h† vÅn chìm Çám trong quan niŒm c° truyŠn: tu là kh° hånh, không kh° hånh là không thành t¿u. 
 Này Aggivessana, lúc bÃy gi© næm vÎ tÿ kheo Çang hÀu hå ta và chúng nghï: ‘Này, Aggivessana, khi nào sa môn Gotama chÙng pháp së nói cho chúng ta bi‰t. ‘Này, Aggivessana, khi thÃy ta æn thô th¿c, æn cÖm chua, các vÎ Ãy chán ghét ta, bÕ Çi và nói r¢ng:’’ sa môn Gotama nay sÓng nay sÓng ÇÀy Çû vÆt chÃt, tØ bÕ tinh tÃn, trª lui Ç©i sÓng sung túc.
 (Trung B¶ Kinh I, ñåi kinh Saccaka, 216B)

ii. TRIêT LÝ TRUNG ñåO: Chuy‹n pháp luân:   phÜÖng pháp tu tÆp.
Sau khi Çã chÙng ng¶, ÇÙc PhÆt Çi tìm  hai thÀy cÛ, nhÜng h† Çã ch‰t. Ngài bèn Çi ljn nÖi næm ngÜ©i ông TrÀn KiŠu NhÜ. H† tÕ thái Ƕ tôn kính Ngài nhÜng h† không chú š l©i PhÆt giäng dåy. Bi‰t h† hi‹u lÀm, ÇÙc PhÆt vÅn theo h†, giäng giäi cho h† con ÇÜ©ng tu tÆp, giäng cho h† trung Çåo. 

1. Không quá thø Ƕng, không quá hæng say. 
ñây là bài giäng ÇÀu tiên ÇÜ®c g†i là Chuy‹n pháp luân:
" đây, này các T-kheo, có người tu tp như š túc câu hu vi dc định tinh cn hành (vi š nghĩ) : ‘Như vy, š mun (dc) ca ta s không quá th động và không quá hăng say, s không co rút phía trong, s không phân tán phía ngoài, an trú vi tưởng trước sau đồng đẳng (pacchàpure-sanni). Trước thế nào, thi sau như vy; sau thế nào, thi trước như vy. Dưới thế nào, thi trên như vy; trên thế nào, thi dưới như vy. Ban ngày thế nào, thi ban đêm như vy; ban đêm thế nào, thi ban ngày như vy". Như vy, vi tâm rng m, vi tâm không gò bó (apariyonaddhena), vi tâm chói sáng, v y tu tp tâm (TÜÖng Ðng V,TÜÖng Ðng NhÜ š Túc).
ñÙc PhÆt Çã ÇÜa ra nhiŠu thí dø cø th‹ Ç‹ hܧng dÅn ÇÒ ÇŒ theo phÜÖng pháp tu tÆp m§i: 
Thy nghĩ thế nào, này Sona? Khi nhng si dây đàn t-bà ca Thy quá căng thng, trong khi y, đàn t-bà ca Thy có phát âm hay s dng được không? 
- Thưa không, bch Thế Tôn.
- Thy nghĩ thế nào, này Sona? Khi nhng si dây đàn t-bà ca Thy quá trùng, trong khi y, đàn t-bà ca Thy có phát âm hay s dng được không?
- Thưa không, bch Thế Tôn.
- Nhưng này Sona? Khi nhng si dây đàn t-bà ca Thy không quá căng thng, không quá trùng xung, nhưng vn đúng mc trung bình, trong khi y, đàn t-bà ca Thy có phát âm hay s dng được không? 
- Thưa được, bch Thế Tôn.
- Cũng vy, này Sona, khi tinh cn tinh tn quá căng thng, thi đưa đến dao động; khi tinh cn tinh tn quá th động, thi đưa đến biếng nhác. Do vy, này Sona, Thy phi an trú tinh tn mt cách bình đẳng, th nhp các căn mt cách bình đẳng, ri ti đấy nm gi tướng.
(Tæng Chi Bô Kinh, chÜÖng VI,Sáu Pháp, ñåi phÄm)
ñÙc PhÆt cÛng ÇÜa ra m¶t thí dø khác:
Ri này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: "S tinh cn quá độ khi lên nơi Ta, và vì có tinh cn quá độ, nên định lc biến dit nơi Ta; khi định b biến dit, hào quang biến mt cùng vi s hin khi các sc pháp. Ví như, này các Anuruddha, mt người vi hai tay bt nm quá cht mt con chim cáy khiến con chim chết lin ti ch

Cũng vy, này các Anuruddha, tinh cn quá độ khi lên nơi Ta. Vì có tinh cn quá độ... cùng vi s hin khi các sc pháp. Vy Ta phi làm thế nào để nghi hoc, không tác š, hôn trm, thy miên, s hãi, phn chn, dâm š, và tinh cn quá độ không khi lên nơi Ta na".      (Trung Bộ Kinh III, 128. Kinh Tùy phin não)
            2. Không døc låc, không hành kh°:

Bài thuy‰t giäng này cÛng ÇÜ®c ÇÙc PhÆt giäng thuy‰t trܧc tæng chúng:
Phàm lc gì liên h vi dc nhưng đam mê loi h h lit, đê tin, phàm phu, không xng bc Thánh, không liên h mc đích, pháp như vy là có đau kh, có phin lao, có ưu não, có nhit não, thuc tà đạo. Phàm lc gì liên kết vi dc, nhưng không đam mê loi h h lit, đê tin, phàm phu, không xng bc Thánh, không liên h mc đích, pháp như vy không có đau kh, không có phin lao, không có ưu não, không có nhit não, thuc chánh đạo. Phàm hành trì t k kh hnh nào, kh đau, không xng bc Thánh, không liên h mc đích, pháp như vy có đau kh, có phin lao, có ưu não, có nhit não, thuc tà đạo. Phàm không hành trì kh hnh nào, đau kh không xng bc Thánh, không liên h mc đích, pháp như vy không có đau kh, không có phin lao, không có ưu não, không có nhit não, thuc chánh đạo"

. Khi được nói đến "Ch có hành trì dc lc, h lit, đê tin, không xng bc Thánh, không liên h mc đích, và cũng không nên hành trì t k kh hnh, đau kh, không xng bc Thánh, không liên h mc đích", chính do duyên này, được nói đến như vy. Khi được nói đến "T b hai cc đoan y, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ng, tác thành mt, tác thành trí, đưa đến an tnh, thượng trí, giác ng, Niết-bàn", do duyên gì được nói đến như vy ? Đây là con đường Thánh tám ngành, tc là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ng, chánh nghip, chánh mng, chánh tinh tn, chánh nim, chánh định. Khi được nói đến "T b hai cc đoan y, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ng.. giác ng, Niết-bàn", chính do duyên này, được nói đến như vy. (Trung B¶ Kinh III,  139. Kinh Vô tránh phân biŒt )
Trong bÙc thÜ gºi cho Vinh MÆu Th¿c, Công Cäo thiŠn sÜ cÛng nh¡c låi l©i PhÆt dåy vŠ trung Çåo:
ñã Çem thân tu tÆp thiŠn, ÇiŠu quan tr†ng nhÃt là không ÇÜ®c v¶i, vì v¶i quá hóa ra trì trŒ, nhÜng cÛng không ÇÜ®c thä lÕng vì thä lÕng tÃt Çâm ra lÜ©i bi‰ng. Cái lš trung Çåo này khó nói ra ÇÜ®c chÌ có th‹ ví nhÜ cách lên giây Ç©n, không cæng quá cÛng không lÕng quá thì Ç©n m§i ra khúc ÇiŒu ( Chang Chen Chi, 152-153)
            
3. Tránh các quan Çi‹m c¿c Çoan.

            TØ trܧc ljn nay, các tri‰t gia thÜ©ng nêu ra nh»ng cu¶c tranh luÆn sôi n°i. Ngay trong th©i ÇÙc PhÆt tåi th‰, nhiŠu tông phái khªi lên tranh luÆn vŠ nhiŠu vÃn ÇŠ. nhÃt là các vÎ Bà La Môn có nh»ng tÜ tܪng c¿c Çoan:
"Không có đời sau, không có các loi hóa sanh, hành vi thin ác không có qu báo" .(TrÜ©ng B¶ Kinh 2,Kinh TŒ túc 7)
-"Thế gii là thường còn, thế gii là vô thường, thế gii là hu biên, thế gii là vô biên; sinh mng này và thân này là mt, sinh mng này và thân này là khác; Như Lai có tn ti sau khi chết, Như Lai không có tn ti sau khi chết, Như Lai có tn ti và không có tn ti sau khi chết. Như Lai không có tn ti và không không tn ti sau khi chết".

(Trung Bộ Kinh II, 63. Tiểu kinh Màlunkyà)

 

Ho¥c h† bàn cãi vŠ chtrương mt phn Thường trú lun, mt phn Vô thường lun, chp bn ngã và thế gii là thường còn đối vi mt hng hu tình và vô thường đối vi mt hng hu tình khác, vi bn lun chp (TrÜ©ng B¶ Kinh I, Kinh Phåm Võng, Tøng phÄm thÙ hai)

ñÙc PhÆt không muÓn tham gia vào nh»ng tranh luÆn Çó nhÃt là nh»ng ÇŠ tài mâu thuÅn v§i nhau. Ngài nói:
"Tt c là có", này Kaccàyana, là mt cc đoan. "Tt c là không có" là cc đoan th hai. Xa lìa hai cc đoan y, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.(TÜÖng Ðng 2, XV. Kaccàyanagotta)
Này các T-kheo, các Ông có th nói: "Thế nào là các hành và các hành này là ca ai?" Hay này các T-kheo, các Ông có th nói: "Các hành và người có các hành này khác", hai câu hi y đồng nghĩa, ch có văn sai khác. Này các T-kheo, ch nào có (tà) kiến: "Sinh mng và thân th là mt", ch y, này các T-kheo, không có Phm hnh trú. Này các T-kheo, ch nào có (tà) kiến: "Sinh mng và thân th là khác", ch y, này các T-kheo, không có Phm hnh trú. Này các T-kheo, t b hai cc đoan y, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo, nói rng: "Do duyên vô minh, có các hành"
 (TÜÖng Ðng II, Chuong I, TÜÖngÐng Nhân Duyên)


4. Trung Çåo trong cu¶c sÓng h¢ng ngày.
ñÙc PhÆt cÛng Çã thuy‰t pháp cho tæng sï và cÜ sï vŠ trung Çåo trong cu¶c sÓng h¢ng ngày.
a.    ˆn uÓng ti‰t Ƕ:
ñÙc PhÆt không nh»ng bàn các vÃn ÇŠ siêu hình mà còn chú tr†ng ljn nh»ng vÃn ÇŠ th¿c t‰ nhÜ vÃn ÇŠ Äm th¿c:
         "Ta s bo v các căn, có tiết độ trong ăn ung,
(Tæng Chi B¶ Kinh, ChuÖng V, SÙc månh h»u h†c)
Và này các T-kheo, thế nào là T-kheo tiết độ trong ăn ung? đây, này các T-kheo, T-kheo như lš giác sát th dng các món ăn, không phi để vui đùa, không phi để đam mê, không phi để trang sc, không phi để t làm đẹp mình, mà ch để thân này được an trú và được bo dưỡng, để (thân này) khi b thương hi, để h tr Phm hnh, nghĩ rng: ", Như vy, ta dit tr các cm th cũ, và không cho khi lên các cm th mi, và ta s không có li lm, sng được an n". Như vy, này các T-kheo, là T-kheo tiết độ trong ăn ung.(Tæng Chi b¶ III.16.Con ÇÜ©ng không có l‡i lÀm)
ˆn nhiŠu sinh phì mÆp, bi‰ng nhác và gây ra bŒnh tÆt. ˆn no thì không thuÆn tiŒn cho viŒc ngÒi thiŠn. TÓt nhÃt là æn uÓng ti‰t Ƕ, không tham Ç¡m viŒc Äm th¿c. NgÜ©i Tây phÜÖng có câu:
            ‘’ˆn Ç‹ mà sÓng chÙ không phäi sÓng Ç‹ æn’’

iii. tri‰t h†c cho ngÜ©I tåi gia
           
NhiŠu ngÜ©i hi‹u sai vŠ PhÆt giáo. H† cho r¢ng ngÜ©i tåi gia phäi Çoån diŒt, Çoån tham, sân, si nghïa là không lao Ƕng, không kinh doanh . Trái låi, Çi sâu vào kinh Çi‹n, ta thÃy ÇÙc PhÆt Çã nhÆn thÙc ÇÜ®c vai trò quan tr†ng cûa các cÜ sï, các bÆc gia chû và nhân dân trong ÇÃt nܧc.
1.  Quân bình chi thu:
V§i các cÜ sï, trung Çåo là bi‰t sÓng thæng b¢ng, quân bình xuÃt nhÆp, không quá phung phí cÛng không quá bûn xÌn:
đây, này Byagghapajja, thin nam t sau khi biết tài sn nhp, và sau khi biết tài sn xut, sinh sng mt cách điu hòa, không quá phung phí, không quá bn xn. 

V y suy nghĩ: "ñây là tin nhp ca ta, sau khi tr đi tin xut, còn li như vy; không phi đây là tin xut ca ta, sau khi tr đi tin nhp, còn li như vy". Ví như, này Byagghapajja, người cm cân hay đệ t người cm cân, sau khi cm cân biết rng: "Vi chng y, cân nng xung, hay vi chng y, cân bng lên". Cũng vy, này Byagghapajja, thin nam t sau khi biết tài sn nhp, và sau khi biết tài sn xut, sinh sng mt cách điu hòa, không quá phung phí, không quá bn xn. V y suy nghĩ: "ñây là tin nhp ca ta, sau khi tr đi tin xut, còn li như vy; không phi đây là tin xut ca ta, sau khi tr đi tin nhp, còn li như vy". Này Byagghapajja, nếu thin nam t này tin nhp vào ít, nhưng sng nếp sng rng rãi, hoang phí, thi người ta nói v người y như sau: "Người thin nam t này ăn tài sn ca v y như ăn trái cây sung". 

Này Byagghapajja, nếu người thin nam t này có tin nhp ln, nhưng sng nếp sng cơ cc, thi người ta s nói v v y như sau: "Người thin nam t này s chết như người chết đói". Khi nào, này Byagghapajja, thin nam t này, sau khi biết tài sn nhp, và sau khi biết tài sn xut, sng nếp sng thăng bng đìu hoà, không quá phung phí, không quá bn xn. V y suy nghĩ: "ñây là tin nhp ca ta, sau khi tr đi tin xut, còn li như vy; không phi đây là tin xut ca ta, sau khi tr đi tin nhp, còn li như vy". Này Byagghapajja, đây gi là nếp sng thăng bng điu hòa.
 (Tæng Chi B¶ Kinh  8, (IV) (54) Dìghajanu, Người Koliya)
2. Kinh Doanh và tiêu xài ÇiŠu Ƕ:
Theo ÇÙc PhÆt, các cÜ sï có quyŠn sän xuÃt, kinh doanh vì viŒc này Çem låi công æn viŒc làm cho ngÜ©i nghèo, xây d¿ng xÙ sª giàu månh n‰u  h† làm viŒc ÇiŠu Ƕ, không lÜ©i bi‰ng ho¥c quá siêng næng,  viŒc kinh doanh cûa h† Çúng pháp, và bi‰t bÓ thí:
Ti đây, này Gia ch, v hưởng dc này, tm cu tài sn đúng pháp và không dùng sc mnh. Sau khi tm cu tài sn đúng pháp và không dùng sc mnh, v y t mình an lc, hân hoan, chia x và làm các công đức. Người y hưởng th các tài sn y, không có tham đắm, không có đắm say, không có mê lon, thy được s nguy hi, có xut ly vi trí tu. V hưởng dc này, này Gia ch, có bn điu được tán thán. V y tm cu đúng pháp và không dùng sc mnh, do điu th nht này, được tán thán. 

V y t mình an lc, hân hoan, do điu th hai này, được tán thán. V y chia x và làm các công đức, do điu th ba này, được tán thán. 

V y th hưởng các tài sn y, không tham đắm, không có đắm say, không có mê lon, thy được s nguy hi, có xut ly vi trí tu, do điu th tư này, được tán thán. (Tæng Chi, chÜÖng 10 ,X. PhÄm nam cÜ sï)
đây, này Gia ch, Thánh đệ t, vi tài sn thâu hoch được do n lc tinh tn, tích lũy được do sc mnh cánh tay, do m hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoch đúng pháp, t làm mình an lc, hoan h, chơn chánh đem li an lc; giúp cha m được an lc hoan h, chơn chánh đem li an lc; giúp v con, người phc v, người làm công được an lc, hoan h, chơn chánh đem li an lc; giúp bn bè thân hu được an lc hoan h, là người chơn chánh đem li an lc. 

Này Gia ch, đây là trường hp th nht, v y đi đến được, đạt được s hưởng th đúng phương x.(Tæng Chi ChÜÖng IV.BÓn Pháp)

đây, này Gia ch, thin nam t th hưởng nhng tài sn thâu hoch được do n lc tinh tn, tích lũy được... thâu hoch đúng pháp và làm các vic phước đức. 

 

V y nghĩ rng: "Ta th hưởng nhng tài sn thâu hoch được do n lc tinh tn... thâu hoch đúng pháp và ta làm các phước đức." Nghĩ vy v y được lc, được h. Này Gia ch, đây gi là lc tài sn. (TANG CHI I, Chương IV - Bn Pháp. VII. Phm Nghip Công ñc)

 

            ñÙc PhÆt Çã không coi nhË ngÜ©i giàu ho¥c quá tôn tr†ng h†. ñÙc PhÆt có tÜ tܪng bình Ç£ng và ti‰n b¶ khi nhÆn thÙc ÇÜ®c vài trò cûa tÜ sän trong Ç©i sÓng xã h¶i. Trong khi các tu sï lo phÀn hÒn thì các thÜÖng gia, kÏ nghŒ gia và ÇiŠn chû Çã lo Ç©i sÓng  vÆt chÃt cho nhân dân, xây d¿ng kinh t‰ cho xã h¶i. H† là nh»ng ngÜ©i h»u ích  cho quÓc gia và nhân loåi ngoåi trØ m¶t sÓ vi luÆt, phåm Çåo ÇÙc.

           
      


chÜÖng IX
   
 chánh Çåo

Trung Çåo là con đường chính, con đường ngay thng, con đường đi đến Chân ThiŒn M. Trung đạo là chánh đạo, là thiŒn Çåo vy. Toàn b triết lš Pht giáo đều nm ch  ‘’chính’’. Chính là đối nghch vi tà, vi gian ác.  Toàn th‹ tri‰t lš PhÆt giáo ÇŠu là trung Çåo. Th¿c hiŒn diŒt tham sân si, làm lành, lánh d», cÓ g¡ng diŒt kh°, th¿c hành Bát chánh đạo, tÆp thiŠn. . . là theo trung Çåo. Toàn b¶ kinh Çi‹n  PhÆt giáo ÇŠu n¢m trong m¶t ch» thiŒn, tÙc chính Çåo, trung Çåo:
 
Ta tuyên b mt cách dt khoát rng, này Ananda, thân làm ác, ming nói ác, š nghĩ ác là điu không nên làm.
(Tæng Chi I,ChÜÖng hai pháp, II.PhÄm tranh luÆn)
Hãy t b thân làm ác, này các T-kheo, hãy tu tÆp thân làm lành, và đây ch có phóng dÆt. Hãy t b li nói ác, này các T-kheo, hãy tu tÆp li nói lành, và đây ch có phóng dÆt. Hãy t b š nghĩ ác, này các T-kheo, hãy tu tp š nghĩ lành, và đây ch có phóng dÆt. Hãy t b tà kiến, này các T-kheo, hãy tu tp chánh kiến, và đây ch có phóng dt.  (Tæng Chi B¶ Kinh I, Chương IV - Bn Pháp. VII. Phm Nghip Công ñc, VI. (116) Không Phóng Dt)
 "Mong r¢ng đối vi các pháp khi‰n cho tham đắm, tâm ta ch có tham đắm !", không phóng dÆt, nim và tâm h trì cn phi làm do t mình. Vi š nghĩ : "Mong rng đối vi các pháp khiến cho sân hn, tâm ta ch có sân hn !", không phóng dt, nim  do t mình. 

Vi š nghĩ : "Mong rng đối vi các pháp khiến cho si mê, tâm ta ch có si mê !", không phóng dt, nim  do t mình. Vi š nghĩ : "Mong rng đối vi các pháp khiến cho say đắm, tâm ta ch có say đắm !", không phóng dt, nim và tâm h trì cn phi làm do t mình. (Tæng Chi B¶ Kinh I , Chương IV - Bn Pháp. VII. Phm Nghip Công ñc. VII. (117) H Trì)
Trung Çåo là tích c¿c diŒt các v†ng niŒm, ác niŒm và ác nghiŒp:
Và này các T-kheo, thế nào là trung đạo l?
đây, này các T-kheo, v T-kheo vi mc đích khiến cho các ác, bt thin pháp t trước chưa sanh, không cho sanh khi, khi lên  mun c gng, tinh tn, sách tâm, trì tâm; vi mc đích khiến cho các ác, bt thin pháp đã sanh được tr dit, khi lên  mun c gng, tinh tn, sách tâm, trì tâm; vi mc đích khiến cho các thin pháp t trước chưa sanh, nay cho sanh khi, khi lên ý mun c gng, tinh tn, sách tâm, trì tâm; vi mc đích khiến cho các thin pháp đã được sanh có th duy trì, không có mù m, được tăng trưởng, được qung đại, được tu tp, được viên mãn, khi lên ý mun c gng, tinh tn, sách tâm, trì tâm; v y tu tp thn túc thông câu hu vi dc định tinh cn hành, tu tp thn túc thông câu hu vi tinh tn định tinh cn hành, tu tp thn túc thông câu hu vi tâm định tinh cn hành, tu tp thn túc thông câu hu vi tư duy định tinh cn hành; tu tp tín căn, tu tp tn căn, tu tp nim căn, tu tp định căn, tu tp tu căn, tu tp tín lc, tu tp tn lc, tu tp nim lc, tu tp định lc, tu tp tu lc, tu tp nim giác chi, tu tp trch pháp giác chi, tu tp tinh tn giác chi, tu tp h giác chi, tu tp khinh an giác chi, tu tp định giác chi, tu tp x giác chi, tu tp chánh tri kiến, tu tp chánh tư duy, tu tp chánh ng, tu tp chánh nghip, tu tp chánh mng, tu tp chánh tinh tn, tu tp chánh nim, tu tp chánh định. Này các T-kheo, đây gi là trung đạo l(Tăng Chi B Kinh, chuơng 3, XI. Phm Chánh Giác.152. Đạo L).
ñÙc PhÆt nói rõ viŒc th¿c hành Bát Chánh Çåo là theo trung Çåo:
 
Có mt con đường Trung đạo dit tr kiêu và dit tr phóng dt, khiến (tnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tch tnh, thng trí, giác ng, Niết-bàn. Và này chư Hin, con đường Trung đạo y là gì - (con đường) khiến (tnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tch tnh, thng trí, giác ng, Niết-bàn? Đó là con đường Thánh tám ngành, tc là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ng, Chánh nghip, Chánh mng, Chánh tinh tn, Chánh nim, Chánh định. Này chư Hin, đó là con đường Trung đạo khiến (tnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tch tnh, thng trí, giác ng, Niết-bàn.( Trung b Kinh I, Tha T pháp)
Tu thiŠn, tÆp tÙ niŒm xÙ là th¿c hành trung Çåo:
Và này các T-kheo, thế nào là trung đạo l?
đây, này các T-kheo, v T-kheo quán thân trên thân, nhit tâm, tnh giác, chánh nim, nhiếp phc, tham ưu đời, quán th trên các cm th ... quán tâm trên tâm ... quán pháp trên các pháp, nhit tâm, tnh giác, chánh nim, nhiếp nhc tham ưu đời. Này các T-kheo, đây gi là trung đạo l. (TĂNG CHI B¶ I .Chương 3 Ba phÄm, XI. PhÄm Chánh Giác)
ThÆt ra trung Çåo và chánh Çåo có liên hŒ mÆt thi‰t. Trung Çåo là chánh Çåo. Tránh xa các c¿c Çoan và th¿c hành các thiŒn pháp là trung Çåo: ñÙc PhÆt dåy TrÀn KiŠu NhÜ và thôn trܪng nhÜ sau:
Có hai cc đoan mà người xut gia không nên thc hành: Mt là say đắm dc lc đối vi các dc vng h lit, đê tin, phàm phu, không xng Thánh hnh, không liên h đến mc đích. Hai là hành h t thân, kh đau, không xng bc Thánh, không liên h đến mc đích. T b hai cc đoan này là con đường trung đạo, đã được Như Lai giác ng, tác thành mt, tác thành trí, đưa đến an tnh, thng trí, giác ng, Niết-bàn.
 Thế nào là con đường trung đạo y, này Thôn trưởng, đã được Như Lai giác ng, tác thành mt, tác thành trí, đưa đến an tnh, thng trí, giác ng, Niết-bàn? ñây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tc là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ng, chánh nghip, chánh mng, chánh tinh tn, chánh nim, chánh định. ñây là con đường trung đạo, này Thôn trưởng, được Như Lai giác ng, tác thành mt, tác thành trí, đưa đến an tnh, thng trí, giác ng, Niết-bàn.(TÜÖng Ðng B¶ Kinh IV,TÆp Sáu XÙ.,ChÜÖng8. TÜÖng Ðng Thôn Trܪng. XII. Ràsiya (S.iv,330)

Ý tܪng này ÇÜ®c Ngài nh¡c låi trong m¶t bài giäng khác:
Này các T-kheo, có ba đạo l này. Thế nào là ba? Thâm c đạo l, kch kh đạo l, trung đạo l.
Và này các T-kheo, thế nào là thâm c đạo l?
đây, này các T-kheo, có người nói như sau, thy như sau: "Không có ti ln trong các dc vng" và rơi vào say đắm trong các dc vng. Này các T-kheo, đây gi là thâm c đạo l.
Và này các T-kheo, thế nào là kch kh đạo l?
đây, này các T-kheo, có người sng lõa th, sng phóng túng, không theo l nghi, liếm tay cho sch, đi kht thc không chu bước ti, đi kht thc không chu đứng li, không nhn đồ ăn mang đến, không nhn đồ ăn đặc bit nu cho mình, không nhn mi đi ăn, không nhn đồ ăn t nơi ni cho, không nhn đồ ăn t ngưỡng ca, không nhn đồ ăn đặt gia nhng cây gy, không nhn đồ ăn đặt gia nhng ci giã go.  .   . V y ch nhn ăn ti mt nhà, ch nhn ăn mt miếng, hay v y ch nhn ăn ti hai nhà, ch nhn ăn hai miếng. Hay v y ch nhn ăn ti by nhà, ch nhn ăn by miếng.V y nuôi sng ch vi mt bát, nuôi sng ch vi hai bát, nuôi sng ch vi by bát. V y ch ăn mt ngày mt ba, hai ngày mt ba, by ngày mt ba. .  . .


V y ăn rau, ăn cây kê, ăn go sng, ăn go rng, ăn cây lau, ăn bt go, ăn bt go cháy, ăn bt vng, ăn c, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn r cây trong rng, ăn trái cây rng để sng. V y mang vi gai thô, mc vi gai thô ln vi các vi khác, mc vi tm lim quăng đi, mc vi lượm t đống rác, dùng v cây làm áo, mc áo da con sơn dương đen, mc áo bn tng mnh da con sơn dương đen, mc áo vi t c Kusa bn li, mc áo bng v cây, mc áo bng tm g nh, mc áo bng tóc bn li thành mn, mc áo bng đuôi nga bn li, mc áo bng lông cú..  . . . Như vy, dưới nhiu hình thc, v y sng thc hành các hnh hành h, hành kh thân th. Này các T-kheo, đây gi là kch kh đạo l
Và này các T-kheo, thế nào là trung đạo l?
đây, này các T-kheo, v T-kheo quán thân trên thân, nhit tâm, tnh giác, chánh nim, nhiếp phc, tham ưu đời, quán th trên các cm th ... quán tâm trên tâm ... quán pháp trên các pháp, nhit tâm, tnh giác, chánh nim, nhiếp nhc tham ưu đời. Này các T-kheo, đây gi là trung đạo l.  .  .  .
Và này các tÿ kheo, th‰ nào là trung Çåo?  Çây này các tÿ kheo,v§i mc đích khiến cho các thin pháp đã được sanh có th duy trì, không có mù m, được tăng trưởng, được qung đại, được tu tp, được viên mãn, khi lên š mun c gng, tinh tn, sách tâm, trì tâm; v y tu tp thn túc thông câu hu vi dc định tinh cn hành, tu tp thn túc thông câu hu vi tinh tn định tinh cn hành, tu tp thn túc thông câu hu vi tâm định tinh cn hành, tu tp thn túc thông câu hu vi tư duy định tinh cn hành; tu tp tín căn, tu tp tn căn, tu tp nim căn, tu tp định căn, tu tp tu căn, tu tp tín lc, tu tp tn lc, tu tp nim lc, tu tp định lc, tu tp tu lc, tu tp nim giác chi, tu tp trch pháp giác chi, tu tp tinh tn giác chi, tu tp h giác chi, tu tp khinh an giác chi, tu tp định giác chi, tu tp x giác chi, tu tp chánh tri kiến, tu tp chánh tư duy, tu tp chánh ng, tu tp chánh nghip, tu tp chánh mng, tu tp chánh tinh tn, tu tp chánh nim, tu tp chánh định. Này các T-kheo, đây gi là trung đạo l.
(Tæng Chi 3, XI. Phẩm Chánh Giác, 52.ñao l¶)
Qua nh»ng ÇiŠu trình bày trên, chúng ta thÃy trung Çåo là chánh Çåo, là thiŒn Çåo, là cÓt lõi cûa Çåo PhÆt.




CHÐ÷NG X
Hòa
   
Trung Đạo có nghĩa là hoà, tức là hòa bình, hòa đồng. PhÆt giáo là m¶t tôn giáo cûa trí tuŒ và lš trí, là vì PhÆt giáo không mù quáng, c¿c Çoan, bi‰t nhÆn Çúng s¿ vÆt nhÜ nó hiŒn h»u. 
1. Bác ái, Bình đẳng
Pht giáo quan nim mt xã hi bình đẳng, hòa đồng, không phân bit giai cp. Đó cũng lòng từ bi, và cũng là tinh thần cách mạng. Người Bà La môn cho rằng các Bà la môn  là giai cấp tối thượng nhưng đức Phật đã bác bỏ quan niệm này. Theo đức Phật, người Bà La môn cũng sinh ra từ bụng mẹ, không ai sinh từ miệng thượng đế, và các giai cấp bình đẳng, ai tu hành, đắc chánh pháp là người  tối thượng dù là giai cấp lao động.

4. - Này Vàsettha, các người Bà-la-môn thật đã quên quá khứ khi họ nói: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ tiện. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên". Này Vàsettha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh, lại nói rằng: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng... là con cháu thừa tự của Phạm thiên".
5. Này Vàsettha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la). Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện; những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp và được gọi là không xứng Thánh pháp; những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha có người Bà-la-môn... Này Vàsettha có người Phệ xá... 


Này Vàsettha, có người Thủ đà la sát sanh... có tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện... là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la. (Trường Bộ Kinh, Khởi  thế nhân  bổn)

"Then, Vasettha, the Brahmins have forgotten their ancient tradition when they say that. Because we can see Brahmin women, the wives of Brahmins, who menstruate and become pregnant, have babies and give suck. And yet these womb-born Brahmins talk about being born from Brahma's mouth...These Brahmins misrepresent Brahma, tell lies and earn much demerit. 
5. "There are, Vasettha, these four castes: the Khattiyas, the Brahmins, the merchants and the artisans. And sometimes a Khattiya takes life, takes what is not given, commits sexual misconduct, tells lies, indulges in slander, harsh speech or idle chatter, is grasping, malicious, or of wrong views. Thus such things are immoral and considered so, blameworthy and considered so, to be avoided and considered so, ways unbefitting an Ariyan and considered so, black with black results and blamed by the wise, are sometimes to be found among the Khattiyas, and the same applies to Brahmins, merchants and artisans. 

6. "Sometimes, too, a Khattiya refrains from taking life,...is not grasping, malicious, or of wrong views. Thus such things as are moral and considered so, blameless and considered so, to be followed and considered so, ways befitting an Ariyan and considered so, bright with bright results and praised by the wise, are sometimes to be found among the Khattiyas, and likewise among Brahmins, merchants and artisans. 
"Now since both dark and bright qualities, which are blamed and praised by the wise, are scattered indiscriminately among the four castes, the wise do not recognize the claim about the Brahmin caste being the highest. Why is that? Because, Vasettha, anyone from the four castes who becomes a monk, an Arahant who has destroyed the corruptions, who has lived the life, done what had to be done, laid down the burden, reached the highest goal, destroyed the fetters of becoming, and become emancipated through super-knowledge--he is proclaimed supreme by virtue of Dhamma and not of non-Dhamma.
"Sometimes, too, a Khattiya refrains from taking life,...is not grasping, malicious, or of wrong views. Thus such things as are moral and considered so, blameless and considered so, to be followed and considered so, ways befitting an Ariyan and considered so, bright with bright results and praised by the wise, are sometimes to be found among the Khattiyas, and likewise among Brahmins, merchants and artisans.
"Now since both dark and bright qualities, which are blamed and praised by the wise, are scattered indiscriminately among the four castes, the wise do not recognize the claim about the Brahmin caste being the highest. Why is that? Because Vasettha, anyone from the four castes who becomes a monk, an Arahant who has destroyed the corruptions, who has lived the life, done what had to be done, laid down the burden, reached the highest goal, destroyed the fetters of becoming, and become emancipated through super-knowledge--he is proclaimed supreme by virtue of Dhamma and not of non-Dhamma.(Digha Nikaya- Agganna Sutta Wikipedia)


Đức Phật cũng chú trọng đến quốc gia, xã hội. Ngài khuyên nhân dân nên đoàn kết để xây dựng nước:
Khi nào dân Vajjì hội họp bàn luận công việc  trong đoàn kết, giải tán trong đoàn kết, này các Licchavì, dân Vajjì được lớn mạnh, không bị suy giảm. .(Tăng Chi bộ kinh, . Chương VII Bảy pháp. .III. Phẩm Vajìi.- (I) (19) Tại Sàrandada).
As long as the Vajjis get together in unity for their activities and dismiss in unity, their growth not decrease should be expected.(Aïguttara Nikàya 003. Vajjisattakavaggo Ý The sevens to the Vajjis)

2. Khoan hòa với người khác tôn giáo
Phật dạy từ bị và hòa bình. Người Phật tử phải giữ thân tâm an lạc và thế giới hòa bình. Chiến tranh tôn giáo thời trước là do những kẻ cực đoan, độc tài và bá quyền gây ra. Họ cho rằng họ có sứ mệnh truyền bá văn minh và truyền đạo. Họ muốn lấy máu để mở rộng Thiên đàng, phát triển biên cương của Thượng Đế. Người ta vì tham sân si và ngã mạn, muốn bắt buộc người khác tuân lệnh mình. Họ tiêu diệt những ai không theo họ, có đường lối thờ phgụng khác họ, có niềm tin khác họ. Họ dùng gươm giáo để thống nhất thiên hạ , họ giết  cả những người đồng đạo. Tôn giáo chính yếu và đích thực là hòa bình và an lạc.

Người ta dùng võ lực mà còn dùng  quyền uy, tiền bạc và mưu mánh để bắt buộc người khác theo mình.Thượng D(ế, Phật ,Thánh từ bi, nhân ái không bao giờ dùng bạo lực trấn áp hoặc trừng phạt ai. Những người thamn sân si đã dùng tôn giáo làm bình phong cho tham vọng của mình.  Trong cuộc  thánh chiến và các cuộc chiến tranh,  một số lãnh tụ tôn giáo đã phạm lời răn của Thượng Đế , của Thánh Thần và Phật khi gây chết chóc và khốn khổ cho nhân loại. Tôn giáo là con đường đi đến hòa bình và an lạc nhưng cũng là con đường đi đến chiến tranh,thù hận. Trong đó một phần cũng do các thế lực chính trị của thực dân và đế quốc mới cũ gây nên. Vì vậy, các   tôn giáo phải thực bình từ bi, bác ái,   tránh việc bài bác. gây xung đột giữa các tôn giáo.

Tôn giáoNếu có ai chỉ trích hay ca tụng, người Phật tử phải giữ tâm an bình, không  phẫn nộ hay vui thích. Phật dạy:
Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - "Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi". 
6. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: "Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi". (Trung Bộ Kinh- Sa môn quả)

3. Hòa thuận trong  chúng tỳ kheo
Lúc bấy giờ tại Ấn Độ nhiều giáo phái tranh luận về các vấn đề siêu hình như "Bản ngã và thế giới là không thường còn.,"Bản ngã và thế giới là thường còn và không thường còn..."Bản ngã và thế giới là không thường còn và không không thường còn... ;"Bản ngã và thế giới là do mình tự tạo ra..."Bản ngã và thế giới là do người khác tạo ra...
"Bản ngã và thế giới là do tự mình tạo ra và do người khác tạo ra..."
"Lạc, khổ là thường còn...
"Lạc, khổ là vô thường...
"Lạc, khổ là thường còn và vô thường. . .
Đức Phật nhiều lần khuyên chúng tang nên chú trọng việc thiền đinh hơn là tranh luận vô ích, gây chia rẽ.
Đức Phật sai Xá Lợi Phất giảng dạy cho chúng tỳ kheo. Xá Lợi Phất tuân lời, và giảng như sau:
Ở đây, tất cả cần phải cùng nhau tụng đọc không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.(Trường Bộ Kinh, Kinh Phúng tụng).

But friends, this Dhamma has been well proclaimed by the Lord, the fully enlightened one and so we should all recite it together without disagreement, so that this Holy Life may be enduring and established for a long time, thus to be for the welfare and happiness of the Multitude, out of compassion for the world, for the benefit, welfare and happiness of deva’s and humans. And what is this Dhamma that has been well proclaimed by the Lord?(Digha  Nikaya- Sangìti sutta)

Trong Trung Bộ kinh, Đức Phật nói rõ người là không nên tranh luận vì tranh luận đem tới tâm bất an, nghi ngờ và tham ái:

-"Này Hiền giả,  chủ thuyết của ta là trong thế giới, chư thiên, Mara, Phạm Thiên, các Bà la môn, và chư tăng cùng các đệ tử và tín đồkhông được tranh luận với ai vì không tranh luận thì các ý tưởng sẽ không ám ảnh, đời sống không bị triền phược, và không nghi ngờ, do dự, tham ái sẽ bị đoạn diệt. Đó là chủ thuyết của ta do ta tuyên bố. (Trung Bộ Kinh, 18. Mật hoàn)

"The sort of doctrine, friend, where one does not keep quarreling with anyone in the cosmos with its deities, Maras, and Brahmas, with its contemplatives and priests, its royalty and commonfolk; the sort [of doctrine] where perceptions no longer lie latent in the brahmin who remains dissociated from sensual pleasures, free from perplexity, his uncertainty cut away, devoid of craving for becoming and non-. Such is my doctrine, such is what I proclaim." (Majjhima Nikaya 18.Madhupindika Sutta
The Ball of Honey.Translation by Bhikkhu Thanissaro-
Đức Phật khuyên chư tăng nên đoàn kết:
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo hội họp rất đoàn kết, khi, giải tán cũng đoàn kết, khi tham dự công cuộc Phật sự cũng đoàn kết, như vậy tăng chúng sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.(Tăng Chi bộ kinh,Chương VII Bảy pháp . III. Phẩm Vajì.21. Vị Tỳ kheo).
Bhikkhus, as long as the bhikkhus assemble in unity, dismiss in unity and attend to their affairs in unity, their increase is to be expected not their decrease.( Aïguttara Nikàya.003. Vajjisattakavaggo . The sevens to the Vajjis)

Sau ngày Phật tịch diệt, Phật giáo chia ra hai phái là Trưởng lão bộ và Đại Chúng bộ, sau thành Nam Tông (Nguyên Thủy) và phái Bắc Tông. Cuộc tranh cãi  Đại Thừa, Tiểu Thừa ) còn ghi dấu tích trong các kinh điển Kim Cang, Liên Hoa, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm...




1. PhÆt giáo là k‰t h®p gi»a tri‰t lš, luân lš, tâm lš và xã h¶i.
TÙ DiŒu lj, Bát Chánh Çåo là k‰t h®p tri‰t lš v§i luân lš. NgÛ UÄn, ThÆp nhÎ nhân duyên là tâm sinh lš h†c. Bäy pháp bÃt thÓi là xã h¶i h†c vŠ š niŒm Çoàn k‰t.
2. PhÆt giáo là k‰t h®p lš thuy‰t và th¿c hành. NgÛ gi§i, Bát Chánh Çåo, TÙ diŒu lj Çòi hÕi các PhÆt tº phäi th¿c hành tri‰t lš và luân lš trong  cu¶c sÓng. PhÆt giáo còn là k‰t h®p gi»a h†c hÕi PhÆt pháp và th¿c hiŒn thiŠn ÇÎnh. Gi§i ñÎnh TuŒ là mÓi tÜÖng quan nhân quä gi»a luân lš, thiŠn ÇÎnh và trí tuŒ. ñó là y‰u quy‰t cûa Bát Chánh Çåo,  là s¿ k‰t h®p gi»a tÜ tܪng và hành Ƕng. 

TÜ tܪng Çúng thì hành Ƕng Çúng và Çåt ÇÜ®c k‰t quä tÓt ÇËp là giác ng¶. Ngoài ra, trong PhÆt giáo còn có nhiŠu s¿ phÓi h®p khác. ñó là k‰t h®p gi»a th¿c hành Çåo ÇÙc và th¿c hành thiŠn.  ChÌ và quán, T†a thiŠn và hành thiŠn là k‰t h®p các pháp môn.. Đây là đim quan trng nht. Thin là phi hp lí thuyết và thc hành, là thc hin n lc t độ. Là Pht tnếu không hành thin là mt điu thiếu sót.
Đim chung ca các tôn giáo là khuyến thin, mc du trong thc tế tôn giáo đã gây chiến tranh dưới danh nghĩa thánh chiến và truyn bá văn minh. . Làm thin thì khó, làm ác thì d, du sao li dy t bi, bác ái ca bc tôn sưvn là tiếng chuông dóng lên hng ngày cnh tnh lương tâm nhân loi. Có th nhiu người ch trích thiên đàng, địa, kiếp trước, kiếp sau, nhưng tôn giáo nào cũng ch trương linh hn tn ti sau khi chết, và có s s trng pht và ban thưởng đời sau. Nếu ai theo tôn giáo, s không thy l lùng vi thuyết nhân qu, nghip báo ca Pht giáo. Marx ch trích tôn giáo là không tưởng, nhưng Nho, Pht Lão Thiên Chúa giáo, Tin Lành không đưa nhân loi vào cuc chôn sng tp th và gây ra nhng cuc khng b trên thế gii.
3. Pht giáo là mt t chc khá hoàn ho. Pht, Pháp, Tăng là mt cơ cu bao gm nhân s và triết lí, tp
hp nhiu thành phn.  Giáo hi Pht giáo bao gm bn hng là tăng, ni, nam cư sĩ và ncư sĩ. Các h¶i Çoàn cÜ sï vÅn hoåt Ƕng månh, hoàn toàn t¿ do và t¿ nguyŒn, không do m¶t trung tâm quyŠn l¿c nào.
4. Hòa h®p là t¿ do:
PhÆt giáo là t¿ do, không có m¶t luÆt lŒ nghiêm kh¡c, m¶t t° chÙc chính quyŠn s¡t máu, m†i trÜ©ng phái cÛng nhÜ cá nhân ÇŠu có th‹ phøc vø Çåo pháp.
Ngoài ra,  PhÆt giáo là s¿ hòa ÇiŒu gi»a t¿ l¿c và tha l¿c, t¿ Ƕ và Ƕ tha,  vÎ k› và vÎ tha.
Sau này, PhÆt giáo phát tri‹n, các tông phái ÇŠu là nh»ng phát tri‹n nh¢m làm cho viŒc tu tÆp và Ç©i sÓng thêm phong phú. Các chÜÖng sau së trình bày rõ hÖn vŠ các vÃn ÇŠ trên.
Ngoài nhng điu trên, Pht giáo là mt tôn giáo rng rãi, không gò bó, kht khe, tp hp nhiu khuynh hướng. Pht giáo là mt tôn giáo tôn trng t do, bình đẳng. Sau cùng, Pht giáo là mt tôn giáo ca hòa bình trong tâm hn, và hòa bình trong thế gii.

 

CHƯƠNG XI

THUYẾT TRUNG DUNG
CỦA KHỔNG TỬ(551-479)


            Sách Trung Dung  中庸 vn là thiên th 31 trong 49 thiên sách L Ký do Khổng Tử san định các Lễ nghi đời trước mà thành. Sách Đại Hc cũng vy. Từ trước, cổ nhân đã đề cập đến đạo trung, như vua Nghiêu dạy vua Thuấn nên giữ đạo trung[1].

Khổng Tử có khi dùng chữ trung như trong Luận ngữ ngài nói ta chưa đạt mức trung[2]; có khi Ngài dùng trung dung :Trung dung là các một đức tốt, nhưng tiếc rằng đã lâu it ai đat được[3]. Đức Khổng Tử (551-479) thường đem những lẽ đạo  trung mà dậy cho các đệ tử. .

Khổng Tử sinh con trai tên  Lý, tự Bá Ngư, Bá Ngư sinh  Cấp, tự Tử Tư. Trong các học trò Khổng Tử, ông Tăng Tử được sở truyền nhiều hơn cả. Tăng Tử truyền lại thuyết Trung Dung cho Tử Tư子思(483-402). Chúng ta thử tìm hiểu thuyết Trung Dung của Khổng tử như thế nào và có gì khác biệt với triết lý Trung Đạo của Đức Phật hay không.

Chu Hi  Zhuzi) (1130 - 1200) là  một nho gia đời Tống nghiên cứu Trung Dung và viết lời bình giảng như sau:
Không nghiêng lệch là trung, không thay đổi là dung. Trung là chính đạo của thiên hạ; dung là định luật của thiên hạ.[4]

Quy luật chính là chánh đạo và hòa hợp. Chánh đạo là theo lẽ phải, theo đúng khoa học, theo nhân tâm. Hòa hợp là kết hợp vì vũ trụ và thế giới loài người bao gồm nhiều yếu tố chứ không phải đơn điệu.  Sách Trung Dung chương 2 có câu : Trung là gốc lớn, hòa là con đường lớn của thiên hạ. Đạt trung hòa thì trời đất  yên ổn, vạn vật đều phát triển .[5]

Nho giáo quan niệm rằng vũ trụ và con người có mối tương quan (Thiên nhân tương dữ), tinh thần và vật chất thống nhất, lý trí và tình cảm dung hòa, thành thử người quân tử phải biết quy luật mà hành sử.Trung dung nói thì dễ nhưng khó thực hành. đạo trung dung, it người thực hiện được trung dung[6] .


 Sách Trung Dung có  câu: Người quân tử thì theo trung dung, bọn tiểu nhân thì phản lại trung dung, cứ làm càn, không e dè, kiêng sợ[7]. Xã  hi có  hai hng người, hng di và  hng khôn. Người  khôn thì  thái quá , k  di thì  bt cp[8]. Trung Dung nghĩa là tránh hai cực đoan là thái quá và bất cập, luôn giữ quân bình, điều hòa theo quy luật của vũ trụ, của tâm lý và xã hội.

Theo Trung Dung thì phải làm những gì?
Điều quan trọng nhất là làm điều thiện.
- Vua Thuấn là bậc đại trí, có hiếu với cha mẹ, Bỏ điều ác, tuyên dương điều thiện, theo trung dung.[9]
-Nhan Hồi là  người lành, luôn theo điều thiện[10] 
-Sống theo hoàn cảnh, địa vị của mình, lúc nào cũng an nhiên tự tại, không trách trời, oán người[11]
- Hiếu với cha mẹ,  hòa thuận với vợ con, anh em[12]
 
Ngoài ra người quân tử nên giữ các đức tính khác. Từ  chương XX cho đến chươ ng XXV, Tử  Tư  nhấn mạnh vê tu thân, tri tân, tôn hiền và  thành tín..
Nói chung, Trung Dung của Khổng Tử cũng giống Trung Đạo của Đức Phật, Cả hai đều chú trọng sống theo thiện pháp, và tránh mọi thái quá.



CHƯƠNG XII

TÁC HẠI CỦA THIÊN LỆCH



Một bức tranh hay một bản nhạc là sự hài hòa các màu sắc hay các âm thanh. Thế giới con người cũng vậy. Trung đạo là điểm chung giữa Phật giáo và Khổng giáo. Đó là phương cách xây dựng một xã hội hài hòa và an bình. Đức Phật đã đưa ra thí dụ về cây cung và con chim để nói về tai hại của thái quá và bất cập. Lão Tử cũng mơ ước một thế giới hòa đồng, không có mâu thuẫn, không có đấu tranh:

Hữu vô tương sanh.Nan dị tương thành. Trường đoản tương hình.Cao hạ tương khuynh. Âm thanh tương hòa. Tiền hậu tương tùy有無相生, 難易相成, 長短相形, 高下相傾, 音聲相和, 前後相隨.( Đạo đức kinh, chương 2)

Cực đoan là trái với trung đạo, trái với lẽ phải, trái với hòa bình và phát triển. Cực đoan sẽ dẫn nhân loại đến thất bại và đau khổ. Thế giới chúng ta có nhiều lý thuyết và sư thực hành cực đoan trong chính trị, giáo dục, tôn giáo và kinh tế.

Một số học sinh, sinh viên chú trong vế khoa học mà bỏ quên luân lý đạo đức vì vậy mà Rabelais đã phê phán" Khoa học không có lương tâm chỉ làm hại tâm hồn".Một số sinh viên, học sinh khác chỉ chú trọng kiến thức mà xao lãng luyện tập thân thể cho nên một học giả Latin đã nhắc nhở" Một trí tuệ minh mẫn trong một thân thể cường tráng".

Trong nhiều xứ sở, nhân dân bao gồm mọi người, không phận biệt tôn giáo, chủng tộc, giới tính và giai cấp xã hội, nhưng những xã hội khác lại chủ trương đấu tranh giai cấp, Chủ trương này đã gây chiến tranh tàn khốc non thế kỷ trong thế giới chúng ta.

 Trong thế giới ta, nhiều lý thuyết và hành động đề cao nông dân, đề cao thương gia trong khi đó có chủ trương đề cao giai cấp công nhân tiên tiến trong phong trào cách mạng vô sản. Họ cũng đề cao lao động chân tay mà khinh thường lao động trí óc. Trong một vài nước, tư hữu bị  bãi bỏ. Những lý thuyết và hành động này là thiên lệch. gây tai họa cho xã hội và nhân dân.

Những lý thuyết và hành động này là giả dối và dễ thay đổi, từ cực đoan này sang cực đoan khác. Một số chỉ trích cá nhân chủ nghĩa, tư bản bóc lột và lệ cha truyền con nối của quân chủ nhưng thực tế, chính họ theo tệ sùng bái cá nhân, họ trở thành những tư bản đỏ, và họ theo lệ cha truyền con nối của quân chủ.

Những lý thuyết và hành động này trái với tính nhân bản, trái khoa học và dân chủ cho nên bị nhân dân phản đối. Trước sự vùng dậy của nhân dân, bọn độc tài đã ra sức tàn sát, giam cầm và khủng bố. Cực đoan là tính chất của chế độ  tàn ác , của bạo chúa. Trung đạo là con đường tốt nhất để xây dựng đất nước và thế giới trên nguyên tắc nhân bản, tự do và dân chủ. Trung đạo là con đường đi đến hòa bình và phát triển.


[1]允執其中 Doãn chp k  trung LUẬN NGỮ thiên 20, Nghiêu viết.
[2]不得中行而與之bất đắc trung hàng nhi dữ chi
Luận Ngữ thiên 13, Tử Lộ.
[3]中庸之爲德也,其至矣乎!民鮮久矣。trung dong chi
vi đức dã , kỳ chí hĩ hồ , dân tiên cửu hĩ Luận Ngữ thiên 6,Ung Dã
[4]子 程 子 曰: 不 偏 之 謂 中; 不 易 之 謂 庸; 中 者 天 下 之 正 道, 庸 者 天 下 之 定 理.
Tử Trình Tử viết: bất thiên chi vị trung; bất dịch chi vị dung; Trung giả thiên hạ chi chính đạo, dung giả thiên hạ chi định lý.(Lời n ói đầu)
[5]   , . , . , , . Trung dã gi, thiên hchi đại bn dã. Hòa dã gi, thiên h chi đạt Đạo dã.   Chí trung hòa, thiên địa v yên, vn vt dc yên 
[6] ! ,   Trung Dung kỳ chí hĩ hồ! Dân tiển năng, cửu hĩ.
[7] ; . , ; , «Quân tử Trung Dung; tiểu nhân phản Trung Dung. Quân Tử chi Trung Dung dã, quân tử nhi thời trung; tiểu nhân chi phản Trung Dung dã, tiểu nhân nhi vô kỵ đạn dã.»(Ch.2)
[8]知 者 過 之; 愚 者 不 及 也 Trí giquá chi; ngu gi bt cp dã.(Ch.4_)
9 ! , . . , . «Thuấn kỳ đại trí dã dư ! Thuấn hiếu vấn, nhi hiếu sát nhĩ ngôn. Ẩn ác dương thiện. Chấp kỳ lưỡng đoan, dụng kỳ trung ư dân. ‘’(Ch.6)
10 ; , ,«Hồi chi vi nhân dã; trạch hồ Trung Dung, đắc nhứt thiện» ( ch.8)
[11]君 子 素 其 位 而 行; 不 愿 乎 其 外. 素 富 貴, 行 乎 富 貴. 素 貧 賤, 行 乎 貧 賤. 素 夷 狄, 行 乎 夷 狄. 素 患 難, 行 乎 患 難. 君 子 無 入 而 不 自 得 焉. 在 上 位, 不 陵 下; 在 下 位, 不 援 上. 正 己, 而 不 求 於 人, 則 無 怨. 上 不 怨 天, 下 不 尤 人. 故 君 子 居 易, 以 俟 命. 小 人 行 險 以 徼 辛. 子 曰: 射 有 似 乎 君 子: 失 諸 正 鵠, 反 求諸 其Quân tử tố kỳ vị nhi hành; bất nguyện hồ kỳ ngoại. Tố phú quý, hành hồ phú quý. Tố bần tiện, hành hồ bần tiện. Tố di địch, hành hồ di địch. Tố hoạn nạn,hành hồ hoạn nạn. Quân tử vô nhập nhi bất tự đắc yên. Tại thượng vị, bất lăng hạ; tại hạ vị, bất viên thượng. Chính kỷ, nhi bất cầu ư nhân, tắc vô oán. Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân. Cố quân tử cư dị, dĩ sĩ mệnh. Tiểu nhân hành hiểm dĩ kiểu hãnh. Tử viết: «Xạ hữu tự hồ quân tử: thất chư chính hộc, phản cầu chư kỳ thân.’’(Ch.14)
12君 子 之 道, 辟 如 行 遠, 必 自 邇; 辟 如 登 高, 必 自 卑. 詩 曰: 妻 子 好 合, 如 鼓 瑟 琴; 兄 弟 既 翕 ,和 樂 且 耽; 宜 爾 室 家, 樂 爾 妻 孥. 子 曰: 父 母 其 順 矣 乎. Quân tử chi đạo, thí như hành viễn, tất tự nhĩ; thí như đăng cao, tất tự ti. Thi viết: «Thê tử hảo hợp, như cổ sắt cầm; huynh đệ ký hấp, hòa lạc thả thầm; nghi nhĩ thất gia, lạc nhĩ thê noa.» Tử viết: «Phụ mẫu kỳ thuận hĩ hồ.» (ch.15 )




No comments:

Post a Comment