Bình luận về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Bình luận về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Friday, 15 June 2012

47 * TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG * ĐÀN BÀ & QUYỀN LỰC

 

Bí Ẩn Về Quyền Lực Và Tình Ái Của Hồ Chí MinhTrần Viết Đại Hưng

LTS: Dưới đây là bài viết khởi đầu của cuốn sách biên khảo “Bí Ẩn Về Quyền Lực và Tình Ái Của Hồ Chí Minh,” một cuốn sách mà tác giả Trần Viết Đại Hưng đã công phu sưu tập các tài liệu mới khai quật về cuộc đời ông Hồ. Bài giới thiệu sách như sau.
Trong mấy chục năm nay, guồng máy tuyên truyền của Hà Nội đã làm cho nhân dân Việt Nam và thế giới nghĩ về ông Hồ chí Minh như một ông thánh sống, suốt đời hy sinh cho nước cho non nên không lập gia đình và quyền uy, quyền lực của ông coi như tuyệt đối trong chức vụ Chủ tịch Đảng và Chủ tịch nước.
Nhưng cuộc đời người ta vẫn thường nói, " Thấy vậy mà không phải vậy." Đúng vậy, dần dà qua năm tháng, qua những khám phá của những nhà báo, nhà nghiên cứu, người ta mới thấy về đời sống tình cảm cá nhân, ông Hồ không những có một vợ mà có đến mấy vợ, con rơi con rớt tùm lum !Nông đức Mạnh và Nguyễn tất Trung là hai đứa con rơi mà ông Hồ chưa dám nhận là cha vì guồng máy độc ác không cho ông làm chuyện đạo đức ấy. Nhưng phụ tử tình thâm, chắc ông cũng đau đớn buồn khổ vì tình trạng không được công khai nhìn nhận con. Đạo đức cách mạng của chế độ Cộng sản thật là quái đản, nó trộn một chút đạo đức phong kiến lẫn một chút đạo đức Mác Lê và trở nên một thứ hổ lốn vô luân lý khó coi, có tác dụng tiêu hủy những tình cảm thiêng liêng của gia đình. Ông Hồ bị buộc phải đóng vai một ông thánh đạo đức, không được gần gũi đàn bà dù ông là người có cuộc sống nhục dục bình thường của một người đàn ông. Về quyền lực chính trị thì những tài liệu mới tìm được của những học giả Mỹ như Tiến sĩ Sophie Quinn - Judge và nhà sử học Pháp Pierre Brocheux cho thấy ngay từ lúc thành lập Đảng, ông Hồ đã bị phê phán nặng nề và do đó ông đã không nắm vai trò chủ động trong việc điều hành và lèo lái Đảng theo ý muốn. Ông bị Quốc Tế Cộng Sản chế tài quyền lực lãnh đạo. Khi đến cuối đời thì sự nghiệp chính trị của ông còn thê thảm hơn nữa. Ông hoàn toàn bị nhóm Lê Duẩn - Lê đức Thọ tước hết quyền lực , biến ông thành một biểu tượng cho Duẩn - Thọ sử dụng vào mục đích tham vọng chính trị riêng của phe nhóm họ. Dĩ nhiên là có nguyên nhân sâu kín mà các học giả ngoại quốc dù bỏ ra cả chục năm để nghiên cứu về Hồ cũng chưa tìm ra câu trả lời rốt ráo cho vấn đề ông Hồ bị thất sũng này. Cuốn sách này dựa trên chúc thư thật của ông Hồ đã phần nào giải thích nguyên nhân ông bị tước mất quyền lực là vì ông đã liên lạc với chính quyền Ngô đình Diệm ở miền Nam, cụ thể nhất là ông đã gửi cành đào tặng cho ông Diệm qua ủy hội quốc tế vào dịp xuân 1963. Quốc Tế Cộng Sản đã cho phép Lê Duẩn và Lê đức Thọ tước quyền Hồ chí Minh vì tội thỏa hiệp vói chính quyền miền Nam. Đó là cách giải thích hợp tình, hợp lý nguyên nhân ông Hồ bị mất quyền lực vào lúc cuối đời.

Về đời sống cá nhân gia đình cha mẹ anh em, có nhiều người phê phán ông là loại người ăn ở bạc bẽo với ông anh tên Đạt và bà chị tên Thanh. Khi ông Đạt mất, ông Hồ viện cớ đang lãnh đạo kháng chiến vì thế không về dự đám tang. Tuy nhiên sau này có người tìm ra bức thư ông viết trong thời gian lưu lạc ở Pháp cho nhà cầm quyền Pháp yêu cầu xin được gửi chút tiền về cho cha ông là Nguyễn sinh Huy đang ở Việt Nam. Xem thế thì ông không phải là người không nghĩ đến phúc lợi của cha ông. Lá thư này được các nhà nghiên cứu tìm thấy trong văn khố Pháp.

Về đời sống tình cảm cá nhân, sau khi phải rời xa người vợ Trung Quốc Tăng tuyết Minh năm 1927 vì tình hình biến chuyển, theo học giả Hoàng Tranh, ông Hồ cũng rán tìm cách viết thư về vấn an vợ và nhạc mẫu. Lá thư bằng chữ Hán ông viết cho vợ sau này được một nhà nghiên cứu người Pháp tìm thấy. Xem thế ông cũng không phải là người tệ bạc với người phối ngẫu. Không thể đánh giá ông là thứ người lưu manh, lợi dụng con gái đàn bà xong rồi thì "quất ngựa truy phong".
Nhà văn Vũ thư Hiên còn cho biết ông có dịp nói chuyện với một người bạn vốn là con một ông lớn trong chính phủ, đã chứng kiến cảnh Hồ chí Minh và Tăng tuyết Minh gặp nhau ở Hà Nội trong thập niên 1960.

Riêng chuyện người vợ gốc thiểu số Nông thị Xuân của ông bị thủ tiêu như sự ghi nhận của Nguyễn minh Cần và Vũ thư Hiên thì ông Hồ có phải là người ra lệnh giết cô Xuân hay không vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát. Có thể lệnh giết đến từ phe Duẩn - Thọ, vốn không muốn cho ông Hồ cưới vợ và ra lệnh thủ tiêu cô Xuân để ông Hồ tiếp tục đóng vai trò hy sinh cả cuộc đời cho nước non vì thế họ không cho ông lấy vợ dù ông thú nhận trong chúc thư ông cũng thuộc loại phàm phu tục tử, chứ không phải là thần thánh gì như chế độ đã tâng bốc ông.

Đối với phía Hà Nội thì trước đây khăng khăng là ông Hồ không bao giờ lấy vợ nhưng dần dần trước những công bố bút tích và bằng chứng của những nhà nghiên cứu về chuyện ông Hồ có vợ, Hà Nội đã tương đối mềm mỏng trong thái độ chấp nhận chuyện ông Hồ có vợ. Người ta chưa quên chủ biên báo Tuổi trẻ là Kim Hạnh bị mất chức vì dám loan tin ông Hồ có vợ. Mới đây, năm 2002, trong cuốn sách "Từ Nguyễn ái Quốc đến Hồ chí Minh" của Lữ Phương, đã cho đăng nguyên văn bài của Học giả Trung Quốc Hoàng Tranh tiết lộ chuyện người vợ Trung Quốc Tăng tuyết Minh của ông Hồ ở phần phụ lục cuốn sách đã cho thấy Hà Nội đã dần dần chấp nhận chuyện ông Hồ có vợ. Nói chung cuốn sách của Lữ phương vẫn là "be bờ và chữa cháy" cho những khuyết điểm của ông Hồ ở thuở thiếu thời. Chẳng hạn như có bức thư ông Hồ viết cho chính phủ Pháp xin vào học ở trường Thuộc Địa thì Lữ Phương gượng gạo giải thích là do những người chung quanh ông Hồ hồi ấy như Nguyễn thế Truyền gợi ý cho ông Hồ viết lá thư trên. Lữ Phương gắng gượng giải thích như thế là muốn chạy tội cho ông Hồ. Lá thư trên làm cho Hà Nội kẹt vì họ vẫn tuyên truyền là ông Hồ ra đi ngoại quốc tìm đường cứu nước. Nên khi chuyện phũ phàng là khi tới đất Pháp ông đã làm đơn xin vào học trường Thuộc Địa làm Hà Nội khó ăn khó nói và cuối cùng để cho Lữ Phương bào chữa cho Bác rằng lá thư "tội lỗi" ấy là người ta xúi Bác viết!

Nói chung Hà Nội chưa có nổi can đảm nhìn nhũng sai trái mà ông Hồ phạm phải vì họ đã biến ông thành ông thánh từ lâu. Khi phê phán một nhân vật lịch sử, cần phải có sự công tâm, nói lên những cái xấu và tốt của người ấy, tránh lối phê phán một chiều. Con người đôi khi không là thiên thần, cũng không là ác quỷ mà là sự trộn lẫn giữa hai vai trò ấy.

Đoạn cuối bản chúc thư thật, người ta sửng sốt khi thấy ước nguyện của ông Hồ, vốn là ông tổ Cộng sản vô thần ở Việt Nam, là mong ông trời phù hộ cho đất nước Việt Nam và những nước Cộng sản khác sớm thoát ách Cộng sản. Thuở thanh niên lúc đọc luận cương Lê Nin, ông đã kể lại cảm giác hân hoan sung sướng tột cùng và nói to lên trong tiếng khóc, "Ngồi trong phòng một mình mà tôi như đứng trước đồng bào. Tôi muốn hét to lên "Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ. Đây là con đường phá vỡ xiềng xích nô lệ cho chúng ta’."
Sau khi theo chủ nghĩa Cộng sản cả một đời người, cái oái oăm là lúc về già ông trở thành nạn nhân thê thảm của chủ nghĩa ấy, bị cô lập và giết dần mòn, và ông cũng đã nhìn thấy sự tệ hại của chủ nghĩa ấy khi ứng dụng vào thực tế ở Việt Nam. Không ai chối cãi được là phe các nước Xã Hội Chủ Nghĩa đã giúp ông đánh Pháp thành công nhưng rồi khi thành công thì nước Việt Nam lại rơi vào trong vòng khống chế của một chủ nghĩa độc ác mới , còn hung hiểm còn hơn thực dân Pháp, đó là chủ nghĩa Mác Lê Nin. Cuộc đời Hồ chí Minh quả là một bi kịch thảm khốc, bi kịch này xảy ra không chỉ riêng cho cá nhân bản thân ông mà còn cho cả dân tộc Việt Nam.
Chuyện ông Hồ về già hối lỗi cũng không có gì là lạ vì con người là một loài có suy nghĩ, biết nhận xét đúng sai. Sự bồng bột, nhiệt tình thời thanh niên tuổi trẻ đã được thay thếâ bằng sự hối lỗi bởi những suy nghĩ chín chắn, già giặn lúc vào tuổi xế chiều. Cha đẻ của nước Mỹ là Tướng Washington lúc còn trẻ đã ủng hộ chuyện bắt người da đen làm nô lệ nhưng đọc trong bản di chúc viết trước khi từ giã cõi đời, ông Washington đã ước nguyện muốn giải phóng người da đen khỏi cảnh nô lệ. Người ta thường có cảm giác hối lỗi, ân hận về những chuyện làm không đúng trong quá khứ. Hãy nhìn con người độc ác Lê đức Thọ trong những ngày cuối đời, đã cho mời bà Phạm thị Tề (là vợ của ông Vũ đình Huỳnh, và là mẹ của nhà văn Vũ thư Hiên) đến để xin lỗi vì Thọ đã là người giam cầm, đày ải ông Huỳnh trong vụ án xét lại. Một Thủ tướng Phạm văn Đồng cả cuộc đời theo Cộng sản vô thần, thế mà đến những ngày cuối đời, khi hai mắt bị bệnh gần như mù, cũng đã đến chùa xin quy y Phật. Khi sám hối về những mê muội sai lầm cũng là cách con người tìm lại sự thanh thản cho tâm hồn trước khi bước qua thế giới bên kia. Nói chung, Hồ chí Minh, Lê đức Thọ và Phạm văn Đồng đều có những hối lỗi chân thành khi hấp hối tàn đời.

Cuốn sách này mổ xẻ những huyền thoại để vạch ra chân tướng thật sự của ông Hồ không nhằm mục đích tôn vinh hay bôi bẩn ông mà chỉ có ước mong vẽ lại cho đúng chân dung của ông để thế hệ sau có thể rút tỉa kinh nghiệm hầu có những hành động ích quốc, lợi dân.
Ước nguyện của ông Hồ mong được nhìn thấy Việt Nam và những nước Cộng sản thoát khỏi gông cùm Cộng sản cũng là ước nguyện chung của những người đấu tranh và nhân dân Việt Nam. Nhưng chuyện đưa đất nước thoát khỏi một hầm chông hiểm độc không phải là một chuyện làm đơn giản một sớm một chiều mà là một nỗ lực đấu tranh bền bĩ , một sự hy sinh gian khổ không ngừng nghỉ trọn tháng trọn năm.

Bên cạnh những bài viết về ông Hồ, cuốn sách này cũng có bài nói đến kẻ phản bội Nguyễn cao Kỳ, tệ nạn phe phái bênh và bảo vệ cho nhau trong nền công lý Mỹ, đời sống thực vật và động vật của người tù và người cùng khổ ở Việt Nam, bài nhận xét về con người của hai mặt của Thượng nghị sĩ Dân chủ John Kerry, và bài góp ý với Sử gia Duiker về tiểu sử Hồ chí Minh kèm nhiều tư liệu và hình ảnh khác có liên quan đến Hồ ở phần cuối cuốn sách.

Quê hương vẫn còn trong gông cùm Cộng sản. Đồng bào Việt Nam vẫn đang sống kiếp ngựa trâu. Bổn phận ai còn nghĩ đến quê hương đất nước đồng bào là phải dấn thân tranh đấu, chuyển lửa tiếp máu cho những người đấu tranh ở quê nhà. Cái sai lầm của Hồ chí Minh đã đem lại đau thương, uất hận cho nhân dân Việt Nam trong gần thế kỷ qua. Người Việt Nam phải sửa cái sai lầm chết người đó bằng khối óc, con tim và chính thân mạng của mình thì mới mong ngày tổ quốc bước ra khỏi cơn đau.

TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG

http://community.vietfun.com/showthread.php?t=558431

 

 

 



Bí Ẩn Chung Quanh Chuyện Hồ Chí Minh
Bị Thất Sủng Vào Lúc Cuối Đời

Trần Viết Ðại Hưng
 

(Updated 01.2009)
Từ trước đến nay, ai cũng nghĩ Hồ chí Minh là một lãnh tụ với quyền uy tuyệt đối, xem ra quyền hạn còn hơn ông vua ngày xưa vì cả nước đều bắt buộc phải kính mến ngưỡng mộ ông như một ông thánh sống. Sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm năm 1975, Ðảng Cộng sản lấy tên ông để đặt cho thành phố Sài gòn và đi đâu người ta cũng thấy khẩu hiệu "Sống, chiến đấu, lao động theo gương Bác Hồ vĩ đại". Người ta nghĩ ông có một quyền uy tuyệt đối như Kim nhật Thành ở Bắc Hàn hay Fidel Castro ở Cuba. Nhưng rồi dần dà với những bí mật dần dần được tiết lộ ra bởi những đảng viên dưới quyền như Nguyễn văn Trấn, Sơn Tùng với những bằng chứng cụ thể, người ta thấy ông đã bị thất sủng vào lúc cuối đời. Hai nhân vật Lê Duẫn và Lê đức Thọ đã "đì" và ăn hiếp ông đến độ tàn tệ như đã ăn hiếp Võ nguyên Giáp và hai ông họ Lê này đã có lần mưu sát hụt Hồ chí Minh. Vì sao một người chủ tịch Ðảng kiêm chủ tịch nước và vốn là một cán bộ Cộng sản gộc do Quốc tế Cộng sản đưa về Việt Nam hoạt động như Hồ chí Minh lại bị thứ đàn em như Lê Duẩn và Lê đức Thọ khống chế đến độ ông coi như không còn một chút quyền hành tối thiểu nào trong những năm tháng cuối đời? Ông đã phạm những sai lầm nào để đến nỗi thất thế như thế. Bài viết này xin trưng ra những tài liệu do những đảng viên dưới quyền viết để chúng ta có thể suy luận thêm về lý do tại làm sao Hồ chí Minh đã bị tước hết quyền hành bởi Lê Duẩn và Lê đức Thọ? Nhân đó mà có một cái nhìn trung thực hơn về lịch sử và diễn tiến hành động của Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Vào năm 1995, nhà xuất bản Văn Nghệ ở hải ngoại cho xuất bản cuốn sách "Viết cho mẹ & Quốc hội" của Ðảng viên cao cấp Nguyễn văn Trấn. Cuốn sách này được coi như "kinh thiên động địa" vì những lời nói thật, nói thẳng của người Ðảng viên gốc Nam kỳ này. Trong cuốn sách, Nguyễn văn Trấn có thuật lại một cuộc họp do bạn ông là Bùi công Trừng kể lại, trong đó Lê đức Thọ tỏ ra hống hách và coi Hồ chí Minh không ra cái gì cả. Nguyễn văn Trấn viết:
" Chuyện họp "lần thứ 9" này làm sao tôi biết được vài điều muốn khóc?
Ôi! Người rất thân với tôi là Bùi công Trừng và Ung văn Khiêm (chưa nói đến Lê Liêm và Xuân Thủy, nhà ở cách bứt khó gặp)
Với cái giọng "mẹ đời", Bùi công Trừng nói với tôi:
_ Cái thằng Lê đức Thọ trước giờ họp, nó đi đi, lại lại trong phòng, như thể đội trưởng một tổ pháo đi kiểm tra đốc thúc pháo binh chuẩn bị.
Nó không hút thuốc. Nhưng hôm nay nó cầm lon thuốc Ðại Tiền Môn ở tay này, tay kia nó cầm bật lửa thứ như chày giã gạo. Nó đi lựa mặt mà chìa lon. Nguyễn khánh Toàn tay ăn hút thấy thuốc lá Trung Quốc như lân thấy pháo. Nó mở hộp lấy một điếu, ngậm rồi chìa mồm ra. Thằng Thọ đánh bật lửa cái "beng". Ðứng xa thấy thằng Toàn gật đầu. Thọ đi đến chỗ thằng Huy. Ce petit - thằng nhỏ nầy bợ hộp thuốc. Lê đức Thọ cũng đánh lửa một cái beng. Thằng Huy khoát mồi lửa, chưa đốt thuốc có lẽ nó đang còn tìm lời văn "Mao nhiều"
Ở một góc phòng thằng Hà huy Giáp đứng, Lê đức Thọ tới, nói cái gì, thằng Giáp nghiêm sắc mặt gật gật đầu.
Ba vị ấy được Lê đức Thọ coi là ba tay có lý luận và mời - biểu - lên tiếng.
Mà trời ơi, dưới triều đại Hồ chí Minh ai được Lê đức Thọ để ý có cảm tình là má thằng đó đẻ nó đêm rằm tháng bảy.
_ Tao nói cho mầy nghe nha, Bùi công Trừng nói tiếp, về chuyện lão Hồ chí Minh. Tao nghe, thằng Thọ âm mưu lật đổ ông già, và lấy Nguyễn chí Thanh thay. Ông lão chỉ còn làm người chuyên nghiên cứu lý luận Mác- Lê nin. Chuyện nước giao cho Nguyễn chí Thanh. Việc Ðảng, Statuquo - Lê Duẩn. Cái thằng tự nhiên lại muốn làm Khổng Tử này, khó lật đổ nó lắm. Vì nó có công trạng ở Nam Bộ, và mấy bà má ôm nó chum chủm trong lòng.
Mầy coi, coi nó tội nghiệp không. Ðồng chí Hồ chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận bộ đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà day mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc hà, "Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà."
Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc:
Khi thương trái ấu cũng tròn
Khi ghét bồ hòn cũng méo

Và ông nói xụi lơ: thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra. Có chi mà!
Bùi công Trừng nói với tôi như vậy
Còn Ung văn Khiêm:
_ Trước khi vào hội nghị, tao có tranh thủ nói riêng với ông cụ, là tao sẽ không đưa ra cái nháp bản tuyên bố chung của tao và Novotny, cho ông cụ yên tâm. Vì trong bản thảo ấy ông cụ có thêm mấy chỗ, còn mang tuồng chữ của monsieur Hồ chí Minh rành rành. Tao nghĩ bản thảo ấy đưa ra không phân bua gì cho tao, mà chỉ làm thớt cho Sáu Thọ băm ông cụ.
Và mày coi thằng thủ trưởng khoa giáo của mày (ý nói Tố Hữu). Khi tao đứng tại chỗ phát biểu ý kiến, thằng Huy đi ngang qua, nó phun nước miếng, và đoạn tao nói chủ trương hòa bình là trung thành với Lénine. Tao mỉm cười bụng nói: A, thằng nhỏ mày dám đái đầu ông Xá
Hội nghị 9 này có thông qua cái "nghị quyết 9" và mấy anh ấy nói là cũng có trên 10 ủy viên trung ương không bỏ thăm.
Anh Khiêm lộ bí mật
_ Tao có hỏi mí ông cụ có bỏ thăm không. Ông cụ làm thinh
"Nghị quyết 9" tạo một cao trào trấn áp, khủng bố đảng viên. Nó cho lập ra Ban xét tội và kết án trực thuộc Bộ Chính Trị của Trung ương Ðảng. Ban này có mấy ban viên, tôi không nói. Chỉ nói người đứng thớt là Lê đức Thọ, người làm heo là Trần quốc Hoàn (tôi nói giọng thịt luộc Chợ Ðệm).
Hai vị này toàn quyền qui kết tội: xét lại chống đảng, âm mưu lật đổ, phản cách mạng, tay sai đế quốc...
(Trích "Viết cho mẹ & Quốc Hội" của Nguyễn văn Trấn, trang 327, 328, 329, nhà xuất bản Văn Nghệ, California)
Những ai vốn thường nghĩ là Hồ chí Minh là nhân vật có hoàn toàn quyền sinh sát trong tay trong chuyện điều hành nội bộ Ðảng hẳn sẽ rất kinh ngạc khi đọc đoạn văn trên. Nguyễn văn Trấn đã thuật lại lời nói của những người bạn ông trong hội nghị 9, diễn tả cái lối xử sự lấn lướt, hỗn láo của Lê đức Thọ đối với nhân vật thường được nghĩ là có quyền uy tuyệt đối là Hồ chí Minh. Cuộc đời thấy vậy mà không phải vậy. Người ta không thể tưởng tượng ra cái cảnh Lê đức Thọ "ăn hiếp" Hồ chí Minh thô bạo và thô bỉ đến như vậy. Cần phải ghi nhớ là thời điểm xảy ra câu chuyện trên là vào cuối năm 1963.
Mới đây nhà văn Sơn Tùng, vốn là một chuyên gia nghiên cứu về Hồ chí Minh, được mệnh danh là "Nhà Hồ chí Minh học" đến nói chuyện với khóa 40 của lớp "Ðào tạo cán bộ quản lý ngành giáo dục". Ông Sơn Tùng còn tiết lộ thêm nhiều chuyện động trời như vào trận Mậu Thân 1968, Lê Duẩn và Lê đức Thọ đẩy Võ nguyên Giáp sang Hungary "chữa bệnh" và tống Hồ chí Minh sang Trung Cộng cho rảnh mắt. Lúc Hồ chí Minh về nước bằng máy bay, Duẩn và Thọ cho cán bộ phi trường đổi đèn hiệu sân bay để cố tình gây ra tai nạn cho chiếc phi cơ chở Hồ chí Minh, có nghĩa là mượn tai nạn để giết Hồ chí Minh. Có lẽ số mạng còn lớn nên Hồ chí Minh không chết trong cuộc bố trí do Duẩn và Thọ bày ra và tiếp tục sống đến năm 1969.
Bài nói chuyện của Sơn Tùng được ghi thành văn bản và được phổ biến rộng rãi trên Internet làm nhiều người ngạc nhiên. Dĩ nhiên Sơn Tùng nói những âm mưu của Duẩn và Thọ sau khi Duẩn và Thọ qua đời.
Nhà văn Sơn Tùng kể lại chuyện Duẩn và Thọ mưu sát Hồ chí Minh như sau:
"...Trong bài viết của ông Vũ Kỳ mà ta đọc báo, ta không để ý vì ông ấy viết kín đáo để đăng báo Văn Nghệ, báo Tiền Phong, báo Nghệ An số tết 1998, hồi đó ông chủ trương đăng trên ba tờ báo đó. Nội dung bài báo là: Năm 1967, Bộ Chính Trị mời Bác Hồ đang chữa bệnh ở Trung quốc về để thông qua việc Tổng tiến công 1968. Khi họp lần thứ nhất Bác đã không đồng ý chủ trương Tổng tiến công và nổi dậy. Bác chỉ đồng ý tập kích chiến lược rồi rút ra ngay. Ông Giáp cũng chủ trương như vậy nhưng ở thế thiểu số nên ông đi chữa bệnh ở Hungary. Nhưng sắp đến tết Mậu Thân rồi nên phải thông qua chủ trương đó để đi vào cái tết, nên phải mời Bác về. Ông Vũ Kỳ viết bài báo như sau:
Trên máy bay chỉ có bác, ông Vũ Kỳ và người lái máy bay chuyên cơ từ Trung quốc về. Lúc đó đã báo cho bộ đội phòng không từ giờ này..đến giờ này..trên bầu trời nước ta từ hướng này..phương vị này..tuyệt đối không nổ súng. Thời đó đang chiến tranh, vào giờ đó là xuất hiện máy bay của ta. Khi máy bay về tới vùng trời Hà nội, sân bay Nội Bài khi đó là sân bay quân sự nên máy bay xuống sân bay Gia Lâm. Người lái báo cáo với anh Vũ Kỳ ngồi bên cạnh (Bác ngồi phía sau hút thuốc):
_ Thưa anh, tín hiệu đường băng lệch 15 độ, bây giờ làm sao đây?
_ Quan sát lại đi! Ông Vũ Kỳ nói.
_ Em là người lái mà lái máy bay cho Bác thì em nhìn sao được! Người lái nói
Máy bay lượn hai vòng không dám xuống vì theo ông nếu hạ cánh thì máy bay sẽ chạy đến Phố Nổi, thì tan xương chứ.
_ Bây giờ làm thế nào? Quay trở lại không được, xăng hết rồi, giờ quy định cũng đã hết rồi, phòng không nó bắn chết, mà xuống theo tín hiệu thì không an toàn..
_ Phải xuống theo trí nhớ thôi, cậu có xuống được không? Ông Kỳ nói
Cuối cùng xuống theo trí nhớ (của người lái), chứ không xuống theo đèn tín hiệu, vì trên máy bay báo đi báo lại, nhưng dưới sân bay vẫn không thay đổi, trên báo "tín hiệu chệch" dưới vẫn cứ để thế, không sửa.
Vòng một vòng và máy bay hạ cánh chạm đất an toàn, thở đánh phào một cái. Bác vẫn ngồi ung dung hút thuốc. Ở dưới sân bay vẫn yên tĩnh
_ An toàn rồi anh ơi!
Mừng quá, nói to lắm nhưng Bác làm như không nghe thấy.
Ra khỏi máy bay (ông Vũ Kỳ tả) thì thấy đồng chí Lê Duẩn, Lê đức Thọ ra đón, một lúc thì thấy ông Ðồng, chỉ có thế thôi, không còn ai đón Bác cả.
Phải nhận thấy ông Vũ Kỳ (nguyên là người luôn ở bên cạnh Hồ chí Minh) rất khéo léo khi trình bày vấn đề máy bay gặp vấn đề đáp vì đèn hiệu dưới sân bay chệch hướng. Mới đọc thì người ta tưởng đây là một sự trục trặc thường tình về chuyện kỹ thuật đáp của máy bay. Vì vậy bài báo kể chuyện này mới được ba tờ báo đăng. Nhưng nếu đọc và suy luận kỹ thì ta thấy ông Kỳ đã khéo léo tố cáo âm mưu giết Hồ chí Minh của Lê Duẩn và Lê đức Thọ bằng cách ra lệnh cho đèn hiệu dưới sân bay trệch hướng để phi công không đáp được theo kỹ thuật phi hành. Dấu hiệu rõ rệt nhất cho chuyện mưu sát là khi người phi công thấy đèn chệch hướng không đáp được (có lẽ đáp vào ban đêm), ông ta tìm cách liên lạc với bên dưới bằng vô tuyến nhưng bên dưới không trả lời! Vũ Kỳ sau khi kể chuyện này trên báo thì bị bộ chính trị kêu lên "hỏi thăm sức khỏe" ngay. Có lẽ vì quá uất ức vì chuyện mưu sát Hồ, mà nếu hôm ấy máy bay bị tai nạn thì Vũ Kỳ cũng đã tan xác theo với Hồ vì Vũ Kỳ có mặt trên chuyến máy bay ấy!
Số Hồ chí Minh chưa chết nên viên phi công đã đáp máy bay chở ông và Vũ Kỳ theo trí nhớ và đã bình an chứ không gây ra tai nạn. Trước đây cựu chiến binh Trần dũng Tiến cũng đã viết bài lên tiếng về vấn đề này (có lẽ sau khi đọc và suy luận về bài viết của Vũ Kỳ). Dĩ nhiên Trần dũng Tiến cũng chỉ mạnh dạn lên tiếng âm mưu hãm hại Hồ chí Minh bằng tai nạn phi cơ của Duẩn và Thọ sau khi Duẩn và Thọ qua đời. Mới đây Trần dũng Tiến cũng mới bị bắt vào tù, nối gót theo nhà tranh đấu Phạm quế Dương và Nguyễn đan Quế cũng vừa bị bắt vì bị tố cáo là chuyển e-mail này nọ. Cộng sản nghĩ là khi ruồng bố những người đấu tranh như thế thì chế độ chúng sẽ an toàn hơn, nhưng những chuyện chúng làm chỉ càng ngày càng làm cho giọt nước tràn ly và báo trước những xáo động lớn trong những ngày sắp tới.
Trở lại chuyện Lê Duẩn và Lê đức Thọ. Hai ông này đều hoạt động ở miền Nam và khi ra Bắc thì hai ông liên kết với nhau để khống chế quyền lực trong Ðảng. Cựu Ðại tá Bùi Tín, trong những cuốn sách xuất bản ở hải ngoại, đã kể nhiều chuyện cụ thể hai ông phối hợp với nhau để "đì" Võ nguyên Giáp như thế nào. Trong đó có chuyện hai ông đẩy cho Giáp chức "cai đẻ", Giáp phải cắn răng mà nhận vì không dám chống đối để rồi làm trò cười cho nhân dân vì không ai có thể tưởng tượng nổi chuyện một ông đại tướng cầm quân giờ đây đi lo chuyện đẻ đái của phụ nữ! Giáp không dám đương đầu với liên minh Thọ - Duẩn ngay từ lúc đầu vì yếu thế và điều này làm cho Duẩn, Thọ coi thường và hạ nhục Giáp thêm. Bùi Tín chỉ nói đến chuyện Duẩn, Thọ "làm tình, làm tội" Võ nguyên Giáp thôi chứ không hề đề cập đến chuyện Duẩn, Thọ "ăn hiếp" luôn cả Hồ chí Minh. Có lẽ Bùi Tín không biết và không tưởng tượng nổi một nhân vật trông có vẻ có quyền uy tuyệt đối như Hồ chí Minh lại bị phe Duẩn, Thọ khống chế. Người ta nói Duẩn, Thọ ghen tức về cái hào quang Ðiện biên Phủ mà Võ nguyên Giáp và Hồ chí Minh có được trước mặt nhân dân và thế giới nên cố làm một chuyện vĩ đại tương tự là xâm chiếm cho được miền Nam. Trở lại chuyện Tổng công kích tết Mậu Thân 1968 thì thấy uy lực của Duẩn Thọ đã quá rõ ràng. Mặc dù cả Võ nguyên Giáp và Hồ chí Minh phản đối chuyện tổng công kích vì thấy khó thành công nhưng phe Duẩn, Thọ vẫn cứ tiến hành chuyện đánh Mậu Thân. Giáp lúc ấy là Bộ trưởng quốc phòng thì bị đẩy qua Hungary "chữa bệnh", Hồ chí Minh thì bị tống qua Trung Cộng sau khi đọc một bài thơ xuân cổ động cho việc tấn công.
Ðó là mấy câu thơ: "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng trận tin vui khắp nước nhà. Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta". Một trận đánh lớn như trận tết Mậu Thân mà Bộ trưởng quốc phòng Võ nguyên Giáp bị đẩy đi xa, chủ tịch nước kiêm chủ tịch Ðảng Hồ chí Minh cũng bị tống ra khỏi nước thì đủ thấy phe Duẩn, Thọ đã hoàn toàn nắm quyền sinh sát trong Ðảng.
Trong cuốn hồi ký "Ðêm giữa ban ngày", nhà văn Vũ thư Hiên có kể lại chuyện mẹ của Vũ thư Hiên có ý trách ông Hồ, trong chức vụ chủ tịch nước, đã tỏ ra bội bạc và vô tình không can thiệp cứu giúp khi phe Lê Duẩn và Lê đức Thọ bắt giữ giam cầm ông Vũ đình Huỳnh (là chồng bà cũng như là thân phụ ông Hiên). Ông Huỳnh là bí thư cho ông Hồ trước đây. Lời trách cứ đó không đúng lắm vì ở giai đoạn bắt ông Vũ đình Huỳnh thì Lê Duẩn và Lê đức Thọ đã tước hết quyền hành của ông Hồ rồi thì làm sao ông Hồ có thể ra tay cứu giúp người bí thư cũ của ông là cụ Vũ đình Huỳnh được.
Nhà văn Sơn Tùng còn có dịp nói chuyện với Ðại tá cựu chiến Binh Cao Nham và được Ðại tá Cao Nham tiết lộ thêm về chi tiết Lê Duẩn đòi giành công đánh trận Mậu Thân như sau:
" Ðầu năm 2001, tôi (Sơn Tùng) có dịp nói chuyện với Ðại tá cựu chiến binh Cao Nham. Trong câu chuyện có một chi tiết tôi không thể quên, theo lời đồng chí Cao Nham về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968, ông Lê Duẩn nói với Bác Hồ, "Ðề nghị Bác để tôi đánh trận này, nếu không thắng tôi xin từ chức Tổng bí thư nhưng với điều kiện Bác phải cách chức Võ nguyên Giáp" (không nói lý do?)
Và trận đánh kết quả không như ý ông Duẩn, vào đợt 2 ông Duẩn lại nói với Bác cũng với đề nghị trên, kết qủa cũng không đạt như ý ông, tiếp đến đợt 3 một lần nữa ông Duẩn lại nhắc lại đề nghị trên, nhưng kết quả không hơn gì các đợt trước.
Vậy là cả 3 dợt của Tổng tiến công và nổi dậy như ông Duẩn chủ trương không đạt như ý định, đương nhiên ông phải "từ chức" như ông tự xác định với Bác chứ ("quá tam" mà) nhưng không thấy ông tỏ thái độ nào cả (trong câu chuyện kể của đồng chí Cao Nham)
Tuy nhiên (có thể theo tôi hiểu) Bác Hồ cũng không muốn có sự xáo trộn nhân sự xảy ra khi sự nghiệp giải phóng miền Nam chưa hoàn thành, nên (vẫn đồng chí Cao Nham kể), Bác nói:
_ Chú Duẩn có uy tín với đồng bào miền Nam thì chú cứ làm Tổng bí thư, còn chú Giáp giỏi quân sự thì cứ để chú ấy làm Bộ trưởng Quốc Phòng.
Về chủ trương Tổng tiến công và nổi dậy, Bác Hồ và ông Giáp không tán thành nhưng vì thiểu số nên phải phục tùng, phải chấp hành, nhưng vì lợi ích không để tổn thất lớn cho lực lượng ta nên Bác đặt vấn đề và hỏi ông Giáp:
_ Có cách nào làm giảm thiệt hại?
Ông Giáp nói:
_ Chỉ còn cách đánh vào các căn cứ gần giới tuyến để kéo bớt lực lượng địch ra ngoài này.
Vì thế ta mới thấy có các trận đánh ác liệt dọc đường 9, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, A Sao, A lưới.. Ðịch phải kéo ra 4 sư đoàn để đối phó với ngoài này, và Tổng thống Giôn-sơn đã có một câu tuyên bố nổi tiếng, "Phải tử thủ với Khe Sanh" chính là vào lúc đó.
Thật ra, câu trả lời của Ðại tá Cao Nham cho rằng ông Hồ và Võ nguyên Giáp đứng về phía thiểu số nên đành phải theo lệnh của Lê Duẩn tiến hành cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968 là một giải thích không hợp lý. Nếu ông Hồ có toàn quyền uy lực chính trị trong tay thì Lê Duẩn làm sao dám cãi lời ông. Chuyện Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp không cản nổi quyết định đánh trận Mậu Thân do Lê Duẩn chủ trương cho thấy Hồ và Giáp đã tỏ ra "lép vế" trước quyền lực của Lê Duẩn rồi. Cho nên sau này chuyện Lê Duẩn và Lê đức Thọ làm những hành động thô bỉ nhằm hạ nhục Võ nguyên Giáp như Bùi Tín đã kể và chuyện Thọ và Duẩn đi đến quyết định tạo dựng tai nạn máy bay để dứt điểm Hồ chí Minh là điều tất yếu phải xảy ra và cũng dễ hiểu thôi. Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao hai nhân vật có uy thế lừng lẫy trong và ngoài nước như Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp lại bị thất thế trước phe nhóm Lê Duẩn và Lê đức Thọ. Hồ và Giáp đã phạm sai lầm nghiêm trọng nào chăng? Ðiều này chưa thấy ai đưa ra câu trả lời hợp lý và rốt ráo. Có thể Võ nguyên Giáp biết rõ chuyện này vì ông là người trong cuộc nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, ông chẳng thể lên tiếng để biện minh cho sự thất thế của Hồ chí Minh và của chính ông trước phe Duẩn, Thọ. Khi lên tiếng thì coi như ông đã phá tan huyền thoại đoàn kết keo sơn của cấp lãnh đạo Ðảng và chắc chắn nhóm cầm quyền hiện nay sẽ không để ông yên ổn sống nốt những ngày cuối đời.
Chỉ sau khi Duẩn, Thọ qua đời mới có những bài viết phê phán sự độc đoán chuyên quyền của hai nhân vật này. Riêng Nguyễn văn Trấn thì phê phán Lê đức Thọ từ lúc y còn sống trong cuốn sách "Viết cho mẹ & quốc hội" nhưng cuốn sách của Nguyễn văn Trấn chỉ được lưu hành ở hải ngoại và đương nhiên là bị cấm xuất bản trong nước. Còn Trần dũng Tiến, Sơn Tùng chỉ mới phê phán Duẩn Thọ sau khi cặp bài trùng này qua đời.
Cách đây không lâu, một cán bộ cao cấp trong Mặt Trận Giải phóng Miền Nam là Lữ Phương, có viết một bài về Hồ chí Minh nhan đề, "Huyền Thoại Hồ chí Minh" cũng đã nói lên chuyện phe Lê Duẩn - Lê đức Thọ đã thật sự khống chế phe Hồ chí Minh - Võ nguyên Giáp như sau:
".. Không biết có khi nào suy ngẫm lại những cái đã qua, ông cảm thấy những bất ổn trong những vở kịch do mình tạo ra hay không, nhưng từ bên ngoài, nhiều người đã thấy khá nhiều những bực bội, buồn phiền gây ra cho ông bởi chính cái đám âm binh cách mạng của ông. Có nhiều chuyện không vui vẻ lắm, nhưng chuyện ông bị cho ra rìa suốt trong quãng đời còn lại trước khi ông mất là đáng chú ý nhất. Sau cải cách ruộng đất năm 1956 ở miền Bắc, do nhập từ Trung Quốc, quá thất đức và sai lầm, ông đưa Võ nguyên Giáp, uy tín như cồn sau Ðiện Biên Phủ, ra thay mặt Ðảng xin lỗi nhân dân, sau đó định sẽ lên thế chỗ Trường Chinh làm Tổng bí thư. Lúc bấy giờ ở Liên Xô, Krushchev đang thắng thế với đường lối hòa bình, trong Ðảng Việt Nam cũng có xu hướng ấy. Nhưng tình hình Việt Nam lại không thuận lợi để phát triển. Do cường độ cuộc chiến tranh ở miền Nam đã lên cao, đường lối quyết liệt dùng bạo lực để giải quyết chiến tranh thắng thế đã đưa cánh Lê Duẩn - Lê đức Thọ lên nắm quyền.
Về Võ nguyên Giáp thì kết quả ai cũng nhìn thấy: bị quy là kẻ cầm đầu chủ nghĩa xét lại và bị trù dập suốt một thời gian dài, đến khi Lê Duẩn chết mới thôi. Còn về Hồ chí Minh thì dường như chẳng có gì, nhưng thật sự cũng đã chịu số phận chung với tướng Giáp. Bên ngoài thì vẫn đi đây đi đó, chỉ đạo việc này việc kia..nhưng bên trong đã dần dà bị cô lập, chỉ giữ vai trò của một ngọn cờ tượng trưng, không có ảnh hưởng gì lắm tới những quyết định lớn. Theo một bài viết của Vũ Kỳ (đăng trên một số báo Văn Nghệ Xuân cách đây vài năm), công lao của Hồ chí Minh trong cuộc "Tổng tấn công và nổi dậy 1968" vỏn vẹn chỉ có bài thơ, "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà.." Sau khi ghi âm bài thơ này thì ông được đưa đi..nghỉ. Vũ Kỳ thuật rằng ông Hồ chỉ biết ngày giờ cuộc "Tổng tấn công và nổi dậy" nổ ra qua Ðài phát thanh nghe được ở nơi ông được gửi đi nghỉ là Bắc Kinh - cùng với giọng đọc của ông, ra rả suốt ngày về bài văn vần nói trên. Nhiều người đã nói đến nhiều khuynh hướng đối nghịch nhau trong Ðảng Cộng sản Việt Nam thời chiến tranh; nhưng qua câu chuyện trên, ta thấy có hai xu hướng chính trong suốt một thời gian dài: Lê Duẩn - Lê đức Thọ đối đầu với Hồ chí Minh - Võ nguyên Giáp.
Dù sao chế độ vẫn cần sự thiêng liêng của ông để tạo ra sự thiêng liêng cho chính mình nên cái chết của ông cũng đã được cánh Lê Duẩn / Lê đức Thọ khai thác triệt để để "xài" một cách thoải mái. Ngày chết của ông là 2-9 vì trùng với ngày Quốc Khánh nên người ta dời lại 3-9-1969. Trong di chúc cuối cùng, ông muốn được hỏa táng và đem tro rải xuống biển hoặc chôn vào một vùng đất nào đó, người ta lại bỏ không biết bao nhiêu tiền bạc ra ướp xác và xây lăng nghìn đời cho ông."
Như vậy rõ ràng cánh Lê Duẩn - Lê đức Thọ đã hoàn toàn khống chế cánh Hồ chí Minh - Võ nguyên Giáp. Trong trận Tổng tấn công Mậu Thân, Hồ bị đưa đi nghỉ ở Bắc Kinh, Giáp bị tống qua Hungary (gọi là "chữa bệnh"!) vì phe Duẩn -Thọ muốn giành công hoàn toàn nếu cuộc Tổng tấn công thành công. Ðáng lý ra, Hồ chí Minh trong chức vụ chủ tịch nước và Ðảng, Võ nguyên Giáp với cương vị Bộ trưởng quốc phòng, Hồ và Giáp phải ở Hà Nội để góp phần chỉ huy và điều động cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Sự thật phũ phàng cho thấy Hồ và Giáp bị phe Duẩn - Thọ tống cổ đi xa ra khỏi nước để Duẩn và Thọ rảnh tay mà điều động mọi chuyện. Ðiều đó cho thấy không còn nghi ngờ nữa là phe Lê Duẩn - Lê đức Thọ đã khống chế hoàn toàn phe Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp. Vì uy tín của Hồ chí Minh quá lớn trước nhân dân và quốc tế nên Duẩn - Thọ vẫn núp bóng Hồ chí Minh để điều hành công việc nhưng bên trong thì Hồ chí Minh bị phe Duẩn - Thọ tước hết quyền hành. Riêng Võ nguyên Giáp thì phe Duẩn - Thọ không coi ra gì cả, và có lúc đã đẩy cho Giáp giữ chức vụ "cai đẻ" để làm nhục Giáp. Giáp ngoan ngoãn nhận chức vụ "cai đẻ" làm trò cười cho nhân dân vì không dám cãi và chống lại quyền sinh sát đang nằm trong tay Duẩn - Thọ.
Có người cho rằng Lê Duẩn có viết vài cuốn sách trong đó Duẩn hết lời ca tụng, kính mến Hồ như thánh sống thì làm sao có chuyện Lê Duẩn lấn át quyền hành Hồ chí Minh được? Muốn trả lời câu hỏi khó khăn này thì phải đọc mấy cuốn sách của cựu Ðại tá Bùi Tín viết ra ở hải ngoại. Bùi Tín có kể Duẩn có lần gặp đám nhà báo như Bùi Tín, Duẩn huênh hoang khoe khoang là tài năng của Duẩn hơn Hồ xa, Hồ thì luôn luôn khúm núm, trọng vọng Mao còn Duẩn thì khi qua Bắc Kinh, dám nói chuyện tay đôi với Mao. Nếu Lê Duẩn thực lòng kính mến Hồ chí Minh thì không đời nào lại có cách ăn nói "phạm thượng" và xách mé, dè bỉu Hồ như thế được. Chuyện Duẩn ca tụng Hồ trong sách của Duẩn chỉ là một vở kịch mà Duẩn đóng quá khéo trước mặt nhân dân Việt Nam và thế giới mà thôi.
Hoàng văn Hoan sau khi qua Bắc Kinh sống đời lưu vong, có cho xuất bản cuốn hồi ký "Giọt nước trong biển cả" trong đó Hoan tố cáo Lê Duẩn đã lấn át quyền Hồ chí Minh trong những năm cuối đời. Hoan giải thích là vì Hồ chí Minh sức khỏe già yếu nên mới bị Lê Duẩn lấn quyền. Ở đây Hoan đã ghi nhận một sự kiện đúng là Lê Duẩn đã lấn quyền Hồ chí Minh trong những năm cuối đời nhưng cách giải thích của Hoan cho rằng sở dĩ Lê Duẩn lấn quyền vì Hồ chí Minh già yếu không được hợp lý cho lắm. Kim nhật Thành của Bắc Hàn cũng chết già nhưng không vì tuổi già sức yếu mà Kim nhật Thành mất quyền lực cai trị. Fidel Castro của Cuba cũng thế, cũng đang tiến vào tuổi già nhưng quyền lực cai trị sinh sát vẫn nắm trong tay. Cho nên lý do Hoan cho rằng Hồ mất quyền lực vào tay Lê Duẩn vì tuổi già sức yếu là một giải thích không được lô gích và chính đáng cho lắm. Có thể Hoan biết lý do chính làm cho Hồ mất quyền lực mà không nói ra vì cấn cái, đụng chạm, và có thể bản thân Hoan cũng không hiểu nổi nguyên nhân chính yếu sâu kín nào làm cho Hồ chí Minh bị Lê Duẩn tước mất quyền lực trong những năm cuối đời.
Năm 1997 ông Nguyễn minh Cần (nguyên Phó chủ tịch ủy ban hành chính thành phố Hà Nội) đã tung ra bài viết "Vài mẫu chuyện về cuộc đời Hồ chí Minh" trong đó ông nêu lên một chuyện động trời là có một cô gái người Nùng tên Nông thị Xuân, ăn nằm với Hồ chí Minh có một đứa con trai rồi sau đó bị giết bằng búa bủa vào đầu, được ngụy trang dưới hình thức một tai nạn ô tô. Ông Nguyễn minh Cần đã kể lại câu chuyện tàn bạo, thê thảm này với những chi tiết cụ thể như sau:
" Sau khi rời Hà Nội đi Moskva (Mạc tư khoa) theo học ở Trường đảng cao cấp của Trung ương Ðảng cộng sản Liên Xô hồi năm 1962, và nhất là sau khi tôi đã ra khỏi hàng ngũ đảng cộng sản hồi đầu tháng 6 năm 1964, trong lòng tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi một câu chuyện mà càng ngày tôi càng thấy rõ có cái gì đây đầy oan khuất, đầy mờ ám, rất là nghiêm trọng, mà bây giờ ở ngoài nước, trong hàng chục năm, lắm lúc tôi cảm thấy bó tay không thể nào tìm hiểu được. Chuyện thế này: hồi cuối những năm 50 đầu những năm 60, tôi là Phó chủ tịch ủy ban hành chánh thành phố Hà Nội, nên thường ngày tôi xuống các cơ sở. Nhưng sáng hôm đó, tôi nhớ là vào đầu xuân, tôi phải đến thường trực tại ủy ban, thì anh Nguyễn quốc Hùng, ủy viên trong ủy ban, phụ trách văn phòng, bước vào phòng tôi, hồi hộp nói, "Báo cáo anh có một việc xảy ra, có một người đàn bà bị ô tô cán ở đoạn đường Nhật Tân phía đi lên Chèm.." Tôi đưa mắt nhìn Quốc Hùng, có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng không nói gì. Ngạc nhiên vì trong óc thoáng một ý nghĩ, xe ô tô cán người ở Hà nội, chẳng phải là chuyện gì hiếm, sao anh ấy lại báo cáo với mình. Tôi im lặng chờ đợi. Quốc Hùng nói tiếp, "Nhưng mà, anh à, theo sự điều tra thì không phải là xe cán người, mà đây là làm ra vẻ xe cán người..." Dừng lại một lúc, anh nói thêm, "Mà... theo báo cáo thì chiếc xe ấy chạy từ Chủ tịch phủ ra.." Mấy tiếng cuối cùng "từ Chủ tịch phủ ra" đã gây cho tôi một cảm giác thật mạnh. Nhưng lúc đó, thật ra, tôi không hề có mảy may ý nghĩ là việc này có liên quan gì đến vị Chủ tịch nước mà hồi đó, tôi chân thành kính yêu và tin tưởng. Một ý nghĩ thoáng qua trong óc: hay là bọn phục vụ ở Chủ tịch phủ đã làm bậy bạ cái gì đây với chị kia, rồi giết đi và bày trò cán xe? Suy nghĩ một lúc, tôi nói, "Theo quyết định của cấp trên, mọi vấn đề thuộc về công an, tòa án thì do bí thư Thành ủy giải quyết, nhất là những chuyện có dính dấp đến trên, việc này không thuộc thẩm quyền của Ủy ban hay Thành ủy, vậy hôm nay, anh đến gặp anh Tuyên báo cáo ngay cho anh ấy biết để giải quyết thì hơn."
Hôm sau, gặp lại, tôi hỏi thì Quốc Hùng cho biết: đã báo cáo rồi và anh Tuyên bảo anh sẽ trực tiếp làm việc với anh Thân (tức Lê quốc Thân, hồi đó là Giám đốc Sở công an Hà nội, về sau được thăng chức Thứ trưởng Bộ công an). Khoảng một tuần sau, nhân gặp Trần danh Tuyên, bí thư Thành ủy kiêm Phó chủ tịch ủy ban hành chính thành phố, tôi tranh thủ hỏi về vấn đề đó, thì anh ta lạnh lùng gạt đi, "Thôi, việc đó xong rồi". Biết là không thuận lợi cho một cuộc trao đổi cởi mở, nên tôi im.. Khi đã ở nước ngoài, trong nhiều năm tôi cứ băn khoăn mãi về chuyện đó.
Hồi tháng 7 năm 1993, khi gặp nhà văn Vũ thư Hiên, một người "cùng cảnh ngộ", tức là cùng bị dính vào "vụ án xét lại - chống đảng", đã sang được Moskva, tôi mới đem chuyện đó kể ra. Hiên bật người lên, vui mừng ra mặt, dường như anh được thêm một người nữa biết cái chuyện "thâm cung bí sử" này và chuyện tôi kể cho anh lại một lần nữa xác nhận điều mà cụ thân sinh của anh, ông Vũ đình Huỳnh, đã dặn dò anh. Hiên nói liền, "Nhưng không phải ô tô từ Chủ tịch phủ phóng ra đâu, anh ạ. Mà từ phố Hàng Bông Nhuộm đi lên Nhật Tân..." Tôi đáp lời, "Chính là Quốc Hùng nói với tôi thế!" Rồi Hiên thủng thẳng tâm sự với tôi, "Có một hôm, ông cụ tôi bảo tôi lên xe, chúng tôi đi lên Hồ tây, rồi theo đường Quảng Bá đi lên đường Nhật Tân, chỗ làng đào, anh biết chứ?" Tôi trả lời theo kiểu dân Bắc, "Biết quá đi, chứ lị! Từ năm 1951, tôi phụ trách ngoại thành cơ mà." Yên trí là tôi biết rõ địa thế vùng này, anh kể tiếp: Dừng xe lại, hai bố con ra xe, ông cụ dẫn anh đến một đoạn đường, hình như một bên có rặng ổi, rồi bảo, "Con ơi, con nhớ những lời bố dặn đây! Tới đây, đánh dấu một vụ án mạng, một vụ oan khuất khủng khiếp mà Trần quốc Hoàn (ủy viên bộ chính trị, bộ trưởng công an) là chính danh thủ phạm. Con hãy ghi nhớ, khi có dịp thì nói lên sự thật..."
Câu chuyện đại để thế này: Có một chị nữ thanh niên người Nùng ở Cao Bằng, tên là Nông thị Xuân, được đưa đến "phục vụ" Bác Hồ, cô Xuân đưa em gái là Nông thị Vàng và một cô em họ nữa về Hà nội. Sau đó, cô Xuân đẻ cho Bác một đứa con trai, được đặt tên là Nguyễn tất Trung, và còn có tin đồn, có thêm một đứa con gái nữa tên Nguyễn thị Trinh. Thế rồi Trần quốc Hoàn hiếp cô Xuân tại nhà phố Hàng Bông Nhuộm, sau đó giết chết, rồi bày trò xe ô tô cán người ở đường Nhật Tân để lấp liếm tội ác. Sau khi cô chị bị giết, cô em chạy về Cao Bằng, rồi cũng bị giết nốt để "bịt đầu mối", và người em họ cô Xuân cũng không thoát khỏi bàn tay đẫm máu. Người yêu của cô Vàng đã viết thư tố cáo hung thủ."
Qua câu chuyện cô Nông thị Xuân, người ta thấy những vấn đề khúc mắc cần phải làm sáng tỏ như sau
Chuyện Hồ chí Minh cho đem cô Nông thị Xuân về "phục vụ" chứng tỏ ông ta cũng có một đời sống tình cảm và sinh lý của một người đàn ông bình thường. Ông không được lấy cô Nông thị Xuân vì bị phe Duẩn, Thọ chống đối, họ muốn ông làm một biểu tượng cao cả, suốt đời hy sinh cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Ở miền Bắc, người ta có lưu truyền một ý kiến cho rằng, "Sở dĩ Bác Hồ không lấy vợ vì Bác đóng vai Bác của toàn dân, nay nếu Bác lấy một người dân làm vợ, hóa ra Bác mà lấy cháu làm vợ hay sao!" Ðây là một ý kiến nhằm thần thánh hóa con người Hồ chí Minh, coi ông như một vị thánh, một siêu nhân, không có một đời sống tình cảm nhục dục thông thường như mọi người.
Còn chuyện cô Xuân bị dùng búa đánh vỡ sọ rồi sau đó phi tang bằng một tai nạn ô tô thì vấn đề đặt ra ở đây là: Ai đã ra lệnh cho Bộ trưởng công an Trần quốc Hoàn giết cô Xuân? Có phải vì muốn đóng vai thánh mà Hồ chí Minh ra lệnh cho Trần quốc Hoàn làm chuyện giết người tàn bạo khủng khiếp này không? Và Trần quốc Hoàn, sau khi nhận lệnh từ Hồ chí Minh, đã cưỡng bức cô Xuân trước khi giết vì tội gì mà không hưởng một đóa hoa tuyệt sắc trước khi tiêu diệt thì "phí của trời" đi. Và Trần quốc Hoàn coi như chỉ làm theo lệnh của Chủ tịch Hồ chí Minh nên không sợ những vấn đề liên lụy, rắc rối khi thi hành tội ác giết cô Xuân. Nếu lý luận này đúng thì Hồ chí Minh đã đi đến tận cùng của sự tàn nhẫn độc ác. Ăn nằm với một người đàn bà rồi cho đàn em thủ tiêu để bảo vệ "thanh danh" của mình.
Có thể lệnh giết cô Xuân đến từ phe Duẩn, Thọ và ông Hồ đang đứng thế yếu, đành phải chấp nhận chuyện đàn em thủ tiêu vợ mình mà không dám lên tiếng một lời để phản đối. Hy vọng với thời gian sẽ còn nhiều nhân chứng lên tiếng để làm sáng tỏ vụ án nhiều oan khuất này. Nếu theo lý luận này, thì Trần quốc Hoàn cũng chỉ thi hành lệnh của cấp trên và không sợ những sự rắc rối sau ngày án mạng xảy ra. Nếu lý luận này đúng thì một lần nữa chứng tỏ quyền hành sinh sát của phe Duẩn, Thọ, đã không coi Hồ chí Minh ra gì và sẵn sàng ra tay làm những điều tổn hại đau đớn đến tình cảm của Hồ.
Chắc chắn với chức vụ bộ trưởng Công an, không bao giờ Trần quốc Hoàn dám giết cô Nông thị Xuân nếu không có lệnh của cấp trên. Vấn đề ở đây là Hồ chí Minh ra lệnh hay phe nhóm Duẩn Thọ cho phép thi hành chuyện giết người kinh tởm này? Ðó là điều chúng ta phải tìm hiểu và đưa ra lời kết luận chính xác, công bình và vô tư.
Tóm lại, qua những tài liệu rõ ràng, cụ thể do Nguyễn văn Trấn, Nguyễn minh Cần và Vũ thư Hiên đưa ra thì quả thật Hồ chí Minh đã bị thất thế trước phe Duẩn Thọ. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao một người sáng lập Ðảng như Hồ chí Minh lại bị thứ đàn em như Duẩn Thọ khống chế một cách thô bạo như vậy. Thời điểm Hồ chí Minh bị thất sủng của Hồ chí Minh xảy ra từ đầu những năm 1960. Phải chăng vì hậu quả của cuộc cải cách ruộng đất mà Hồ chí Minh bị mất uy tín và bị đàn em lấn lướt, ăn hiếp như những chuyện đã kể ở trên? Ở đây cũng cần nhắc lại là sau vụ cải cách ruộng đất kinh hoàng đẫm máu, Tổng bí thư Trường Chinh bị mất chức Tổng bí thư, nhường lại chức này cho Lê Duẩn từ miền Nam ra nắm lấy. Phải chăng Hồ chí Minh cũng bị một số phận tương tự như Trường Chinh sau vụ cải cách ruộng đất sai lầm nghiêm trọng?
Những học giả Tây phương sau này biên soạn về cuộc đời Hồ chí Minh đều thú nhận cuộc đời Hồ chí Minh có những bí mật, những uẩn khúc không giải thích nổi vì bản thân ông muốn che giấu cũng như bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền muốn bưng bít những chi tiết lịch sử không có lợi cho họ. Hy vọng sau Nguyễn văn Trấn, Vũ Kỳ, Sơn Tùng, Nguyễn minh Cần, Vũ thư Hiên sẽ còn thêm nhiều nhân chứng khác lên tiếng để vén cái màn "thâm cung bí sử" của con người Hồ chí Minh. Nếu được như thế, người ta sẽ hiểu rõ vị thế, uy quyền của Hồ chí Minh rõ ràng hơn trong những năm cầm quyền để từ đó có thể có những nhận định trung thực hơn nữa về lịch sử Việt Nam cận đại.

Lawndale, một ngày nóng bức đầu tháng 4 năm 2003
TRẦN VIẾT ÐẠI HƯNG
Email: dalatogo@yahoo.com
(Muốn đọc tất cả những bài viết của Trần viết Ðại Hưng thì vào www.nsvietnam.com rồi bấm tên Trần viết Ðại Hưng nằm bên trái)

Ðọc và suy luận về bài "HCM, Trung Quốc và Liên Xô" của Hoàng Tùng

Trần Viết Ðại Hưng
 

LTS: Bài viết dưới đây của bình luận gia Trần Viết Ðại Hưng, được phổ biến rộng rãi trên hệ thống Internet toàn cầu. Bài viết này gồm hai phần, phần đầu là tóm lực bài viết của Hoàng Tùng, và phần thứ hai là những suy nghĩ của tác giả. Ðể độc giả có thêm những dữ kiện khi nghiên cứu về Hồ Chí Minh, cũng như tương quan giữa chế độ Cộng Sản Việt Nam và hai đàn anh Trung Hoa và Liên Xô, chúng tôi xin được đăng tải lại làm hai kỳ. Kỳ đầu gồm những ý chính trong bài viết của Hoàng Tùng, và kỳ hai là những suy nghĩ của bình luận gia Trần Viết Ðại Hưng.
Tài liệu này trích từ hồi ký "Những kỷ niệm về Bác Hồ" của ông Hoàng Tùng, nguyên bí thư Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam, nguyên tổng biên tập báo Nhân Dân. Tập hồi ký này vừa phát hành liền bị thu hồi vì những điều ông Hoàng Tùng trình bày về ông Hồ tuy trung thực nhưng có tính cách tiêu cực. Và càng bị cấm đoán thì người ta càng tin những điều ông Hoàng Tùng về ông Hồ là chính xác. Ðảng Cộng Sản vốn biến ông Hồ thành thánh từ lâu nên không chấp nhận bất cứ quan điểm tiêu cực nào về ông Hồ. Những tiết lộ của Hoàng Tùng về ông Hồ đã cho thấy ông có những sự trăn trở, lo lắng, đau đớn, những thất bại và thất sủng trong suốt cuộc đời cách mạng của ông. Những chi tiết này sẽ làm cho các sử gia và hậu thế có một cái nhìn đúng đắn và chân thực hơn về con người và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh.
-------------------------------
Vì quan hệ của ta với Trung Quốc và Liên Xô không được thuận tiện, cho nên khi chính quyền của ta được thành lập thì hai nước đều không công nhận. Trung Quốc thì quan hệ không chính thức. Hai người sang ta đầu tiên nhân danh Ðảng mà cũng là Ðảng địa phương thôi, đó là Chu Nam và Trang Ðiền. Một người là chính ủy, một người là tư lệnh quân khu Hoa Nam sang nhờ ta giúp họ tiễu phỉ ở Thập Ðại Vạn Sơn. Sau đó ta có cử một trung đoàn do Lê Quảng Ba phụ trách sang Trung Quốc. Các đồng chí Việt Nam ở Diên An và Trung Quốc sau khi thấy cách mạng Việt Nam thắng lợi thì xin về. Lúc đầu là Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Sơn, Lý Ban, Trương Ái Dân, Cao Tử Kiến. Trương Ái Dân trong thời gian kháng chiến chống Pháp làm công tác công vận ở Liên Khu 3 do tôi phụ trách. Ðồng chí ấy nói với tôi rằng, sau cuộc khủng bố của Pháp năm 1930-1931, đồng chí ấy sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, được đi Diên An. Trong cuộc vận động chỉnh phong năm 1942-1943, đồng chí ấy bị thẩm vấn lý lịch. Người ta hỏi người đứng đầu Ðảng Cộng Sản là ai, đồng chí ấy trả lời là Trần Văn Giàu, liền bị chôn một nửa người xuống hố sâu. Sau đó không hiểu vì sao được thả. Sau Cách Mạng Tháng Tám (1945), đồng chí được về nước cùng với một số người nói ở trên. Cao Tử Kiến công tác ở Yên Bái trong thời gian kháng chiến chống Pháp.
Sau khởi nghĩa ta mở một lớp huấn luyện ở Vạn Phúc cho cán bộ học. Nghe anh Lê Ðức Thọ nói lại là Hồng Lĩnh, tức Nguyễn Khánh Toàn, nói chẳng ai hiểu gì cả. Sau tôi nghe mấy người khác nói ông ta là một giáo sư giỏi lắm. Cả Bùi Công Trừng đi học ở Liên Xô về nói cũng thế cả.
Về quan hệ với Liên Xô, tôi biết Liên Xô, nhất là Stalin coi Bác là một người dân tộc chủ nghĩa cải lương từ năm 1928. Sau lại thêm việc Bác bị bắt ở Hồng Kông rồi lại được thả, khiến Liên Xô nghi ngờ. Stalin không hiểu được lại có những người như Loseby (*).Lại thêm việc Hà Huy Tập báo cáo. Anh Lê Duẩn có nói với tôi là Hà Huy Tập báo cáo với Quốc Tế về việc mật thám đưa bà Thanh (chị Hồ Chí Minh) đi Trung Quốc tìm Nguyễn Ái Quốc và ra nghị quyết phê phán sai lầm dân tộc chủ nghĩa cải lương của Nguyễn Ái Quốc. Bác đến Liên Xô năm 1934-38 chỉ làm công tác ở Ban Thuộc Ðịa của Quốc Tế Cộng Sản, không được giao nhiệm vụ cụ thể. Người được giao nghiên cứu làm luận án phó tiến sĩ về vấn đề thuộc địa. Bác xin được làm nhưng không được trả lời. Người xin về nước. Tại Ðại Hội Quốc Tế Cộng Sản lần thứ 7, Người không tham gia đoàn đại biểu Ðảng ta, chỉ là đại biểu dự thính. Liên Xô vẫn cho rằng Việt Minh là một thế lực dân tộc chủ nghĩa. Họ không thấy Ðảng Cộng Sản đâu, và vì sao Ðảng Cộng Sản giải tán. Năm 1948, cả hai nước đều tìm hiểu xem Việt Nam là gì. Ðảng ta cử Nguyễn Chương (cùng ở xứ ủy với tôi) làm phó cho Lê Ðức Thọ sang Xiêm tổ chức lại tổ chức của ta ở đó. Trong khu ủy của khu bốn, mọi người mâu thuẫn với nhau, mà toàn những lão thành cả như Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Hoan, Hồ Tùng Mậu, Trần Hữu Dực. Ông Hoàng Văn Hoan thì nổi tiếng về những chuyện kèn cựa ngay từ đầu. Ta cử Hoàng Văn Hoan bàn với Nguyễn Chương (có thể là do gợi ý của Trung Quốc) là cử Nguyễn Chương sang Trung Quốc để nghiên cứu. Nhưng thực tế Trung Quốc muốn qua Nguyễn Chương để tìm hiểu tình hình Việt Nam. Nguyễn Chương đến Trung Quốc báo cáo tình hình. Phương hướng báo cáo cũng hữu khuynh đúng như họ đánh giá, nói là ta dân tộc chủ nghĩa, đề cao địa chủ quan lại, không nêu cao vai trò của Ðảng và liên minh công nông. Ðại diện của Liên Xô ở Praha gặp hai đại diện của ta là Trần Văn Danh và Lê Hy hỏi tình hình. Hai người này nói cũng ăn khớp với Nguyễn Chương nói. Nói khớp như nhau bởi vì chúng tôi lúc đầu nghiên cứu theo cương lĩnh của đồng chí Trần Phú, nghĩa là cương lĩnh thứ hai của Quốc Tế Cộng Sản, tức là làm cách mạng tư sản dân quyền, lấy công nông làm trụ cột, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lập chính quyền xô viết à... Chỉ đến khi Cách Mạng Trung Quốc thắng lợi, Bác trực tiếp sang mới trình bày rõ vấn đề. Việc này tôi không được nghe trực tiếp, chỉ nghe anh Lê Văn Lương nói lại. Khi gặp Bác, Lưu thiếu Kỳ nói ngay rằng: "Các đồng chí giải tán Ðảng, các đồng chí tưởng lừa được địch, nhưng địch không lừa được mà lại lừa chính chúng tôi, vì chúng tôi hiểu rằng các đồng chí giải tán Ðảng thật. Còn địch nó thừa hiểu các đồng chí không giải tán Ðảng." Hôm tuyên bố giải tán Ðảng tôi không được dự, nhưng nghe nói lại rằng, quyết định này của Bác thật là táo bạo. Lúc đó không làm thế cũng nguy, vì âm mưu của Tưởng là đánh đổ cộng sản. Với bọn Lư Hán, Tiêu Văn, Ðảng Cộng Sản tồn tại là chúng nó chết, vì sẽ bị Tưởng trị. Nên ta mới lập mẹo tuyên bố giải tán Ðảng, chỉ tuyên bố về danh nghĩa mà thôi, còn trên thực tế Ðảng vẫn tồn tại. Khi đưa ra bản tuyên bố giải tán Ðảng ở thường vụ, người không tán thành nhất là đồng chí Trường Chinh. Sau Tưởng không có lý do gì thúc ép khi Ðảng đã tuyên bố giải tán.
Sau Trung Quốc, Mao đưa Bác vào quỹ đạo của Mao. Sang tới Liên Xô, Stalin lại đưa Bác vào quỹ đạo của Stalin. Chuyến đi Trung Quốc và Liên Xô năm 1950 của Bác là chuyến đi gian khổ. Khi đó Stalin nói: Bây giờ cách mạng Trung Quốc thành công rồi, Trung Quốc có trách nhiệm giúp đỡ các nước phương Ðông, cũng như Liên Xô có trách nhiệm giúp đỡ các nước châu Âu và châu Mỹ. Trung Quốc cho như thế là Quốc Tế Cộng Sản đã phân công Trung Quốc phụ trách châu Á. Bám vào ý kiến ấy, sau này Trung Quốc coi như là người đỡ đầu ta. Tôi cho rằng vì lý do đó như thế mà mấy lần Bác từ chối làm tổng bí thư, có lẽ Bác cho rằng nếu Bác nhận làm tổng bí thư thì Liên Xô sẽ gay chuyện. Từ Ðại Hội Ðảng ta lần thứ nhất ở Macao, Hà Huy Tập đã phê phán Bác như Quốc Tế Cộng Sản đã phê. Bác không nhận là chủ tịch nước cũng là thật lòng chứ không khách khí. Sau này anh Lê Ðức Thọ nói với tôi rằng khi đề nghị Bác làm chủ tịch nước thì Bác từ chối mãi, Bác nói mình là chủ tịch nước à? Mình chỉ đứng đằng sau thôi, còn tìm người khác làm. Người còn nói nếu tìm khó quá cứ đưa Bảo Ðại ra làm rồi mình thu xếp. Bác thực sự vì cách mạng chứ không vì mình.
Ðây là về phía Liên Xô, Trung Quốc, còn về phía Ðảng Cộng Sản Pháp, là Ðảng thân thiết với ta, lúc đầu họ cũng cho Việt Minh là phái thân Nhật chứ không phải cộng sản. Năm 1950, Ðảng Cộng Sản Pháp phái Léo Figuères, ủy viên dự khuyết của trung ương, phụ trách tờ báo Thanh Niên, sang điều tra tình hình của ta. Léo Figuères đến Việt Bắc. Về mặt chức vụ, tôi cũng tương đương với anh ta, nên được cử tiếp anh. Cố nhiên là năm 1946, khi sang Pháp Bác cũng đã nói được một phần nào rồi, nhưng Ðảng Cộng Sản Pháp chưa thể hiểu hết. Léo Figuères muốn biết thực sự Ðảng Cộng Sản có tồn tại hay không, anh ta đi khắp các nơi, ở đâu cũng thấy có Ðảng Cộng Sản, mà đảng viên Ðảng Cộng Sản là những người lao động, những người công nhân, trí thức, còn quan lại, địa chủ là tượng trưng bên ngoài thôi. Từ đó Ðảng Cộng Sản Pháp mới thực sự công nhận ta. Cũng từ đó mới có các phong trào ủng hộ Việt Nam. Trước đó, Ðảng Cộng Sản Pháp không làm gì để ủng hộ ta. Ðó là khó khăn đối với Bác lúc bây giờ. Trong nội bộ tình hình nói chung ổn định, trừ mấy trường hợp, như Trần Văn Giàu. Giàu học ở Liên Xô về. Tôi biết có người tên là Phi Vân, cũng học ở Liên Xô về, bị đi tù ở Sơn La. Khoảng năm 1935, ở tù cùng với Phi Vân, tôi hỏi Phi Vân có nhận xét gì về Nguyễn Ái Quốc. Vân nói ông già này không có gì đâu, ở nhà cứ tưởng là nhân vật quan trọng lắm, chứ ông ta là loại dân tộc chủ nghĩa, trình độ lý luận kém. Ðó là cách nhận định về Bác của mấy người đi Liên Xô về. Trần Văn Giàu thuộc loại trên. Có lần Trần Văn Giàu nói với tôi, năm 1932 về, anh là bí thư, sau khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, anh em mình nhiều người bị bắt, anh đứng ra lập một tổ chức tiên phong, coi như nòng cốt của cách mạng. Cuộc khởi nghĩa ở Sài gòn chính anh là người lãnh đạo. Còn ở Nam bộ một số đồng chí của ta như Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Thị Thập ra nắm vùng nông thôn. Ba người này ra ngoài Bắc dự Hội Nghị Tân Trào. Nguyễn Thị Thập đến không kịp, Ung Văn Khiêm đến chỗ tôi rồi đi Tân Trào, chứ Trần Văn Giàu không được thừa nhận. Việc phân xử Trần Văn Giàu có các lớp đàn anh đi tù ở Côn Ðảo về. Họ là bậc thầy ở Nam Bộ, là những người lãnh đạo quen thuộc của nhân dân Nam Bộ. Thế của Trần Văn Giàu yếu đi, về sau cấp trên điều Trần Văn Giàu đi Xiêm.
Trong Ðảng có hai nguồn đào tạo, một học ở Liên Xô về, một học ở Trung Quốc về. Do đó họ theo quan điểm của hai nơi, có những ý kiến không giống nhau, đôi lúc hục hặc với nhau. Nhưng nói chung cả hai bên đều chịu Bác. Chỉ có Nguyễn Sơn về sau có vấn đề phải ra đi. Trước khi mất, Nguyễn Sơn có tâm sự với tôi rằng sai lầm thì phê bình chứ sao lại đuổi đi. Ông ta trách Bác. Lúc đó tôi hỏi anh Võ Nguyên Giáp, anh ta hay hục hặc như thế để anh ta làm phó cho anh có được không, Võ Nguyên Giáp nói làm phó thế nào được, anh ta suốt ngày chửi tôi, anh ta còn phê bình trường Nguyễn Ái Quốc rất ghê. Sau Bác nói chú Nguyễn Sơn hữu tài nhưng... nên mời chú đi... Thực ra cái khó của hai nhóm này là không hiểu được tư tưởng biện chứng Mác-xít. Ta làm cách mạng ở một nước thuộc địa chứ không phải làm cách mạng ở một nước tư bản, hay quân phiệt nông dân như Trung Quốc. Vấn đề thống nhất dân tộc Việt Nam nhiều người không hiểu được, cho đến tận bây giờ nhiều người vẫn hiểu là phải nhấn mạnh liên minh công nông. Bác có lúc nói Ðảng của giai cấp là theo thời cuộc, và cũng là để chiều lòng người... Bác định nghĩa Ðảng đúng nhất là ở Ðại Hội 2. Ðảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, tức là của dân tộc Việt Nam. Bây giờ lại càng đúng, vì nông dân, công nhân đâu có cách biệt gì lớn, không phải là giai cấp bị áp bức, cùng làm chủ cả, cùng là người lao động tự do, thêm một số trí thức nữa, chứ không phải chỉ có giai cấp công nhân mới ra đời mấy chục năm nay. Bác hết sức sâu sắc nhưng người không nói ra. Những bài viết, những bài phát biểu của Bác từ năm 1920 đến năm 1925 có phân tích sâu sắc, lý luận sắc bén. Sau này, từ Cách Mạng Tháng 8 trở đi, Người viết ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, không phân tích dài dòng để quần chúng dễ hiểu. Hai bên không hiểu, cứ "chiếu tướng" nhau rồi sinh chuyện. Nói Bác lý luận kém là hoàn toàn sai.
Sau khi gặp Stalin và Mao, hai bên cứ thúc ép Bác làm như họ, tức là liên minh công nông, do Ðảng lãnh đạo, lập chính quyền công nông, rồi làm cải cách ruộng đất. Bác chưa muốn làm cải cách ruộng đất. Thuyết ba giai đoạn của đồng chí Trường Chinh đưa ra ở Ðại Hội 2 là có ý kiến của Bác. Theo thuyết ba giai đoạn thì cải cách ruộng đất để sau, hãy làm giảm tô, giảm tức. Ðồng chí Trường Chinh phân tích rất hay. Năm 1946, họp xứ ủy, tôi được nghe ông nói: Dưới chính quyền cách mạng, những cải cách nhỏ đều có ý nghĩa cách mạng, nhiều cải cách nhỏ cộng lại thành cuộc cách mạng lớn.
Mùa Thu năm 1950, Trung Quốc phái hai phái đoàn cố vấn sang Việt Nam. Một đoàn chính trị do La Quý Ba làm cố vấn. La Quý Ba trước là bí thư của Mao, bí thư Sơn Tây. Ông này là người nghiêm chỉnh, phục Mao Trạch Ðông như một ông thánh. Ông là người tin cẩn của Mao. Còn tổng cố vấn về quân sự là Vi Quốc Thanh. Ðoàn cố vấn quân sự đông hơn, vì nó có đủ cả bộ máy của quân sự. Ta không hiểu thâm ý của Trung Quốc là muốn sửa ta. Họ sang để giới thiệu kinh nghiệm Trung Quốc, lý luận Mao Trạch Ðông, lý luận quân sự, tổ chức quân đội. Việc đầu tiên của họ là sửa quân đội đã. Họ sửa cả Ðảng trong quân đội cho nên mới lập ra chức chính ủy. Trước ta chỉ có chính trị viên. Cùng là chính trị cả nhưng có khác nhau về chức năng. Chính ủy là người bao trùm lên tư lệnh, chứ không phải tư lệnh là người quyết định. Lập ra chính ủy là để xác định vị trí của Ðảng, mà việc đầu tiên là nhắm vào ông Giáp. Vì ông Giáp xuất thân từ trí thức, năm 1950 mới có 10 tuổi Ðảng, mặc dù ông tham gia cách mạng từ những năm 1930, nhưng ông hoạt động bị bắt, rồi lại đi học, mãi đến năm 1940 mới được Bác kết nạp vào Ðảng. Theo Trung Quốc, ông là một trí thức, xuất thân không phải công nông, để ông nắm quân sự là không ổn. Ðặt ra chức chính ủy là để phụ trách Ðảng trong quân đội. Có người đưa ra đoàn cố vấn một danh sách cán bộ trong quân đội xuất thân từ gia đình không phải là công nông, định để gạt ra khỏi quân đội. Ai đưa danh sách này cho đoàn cố vấn? Tôi ngờ rằng đó là một người trong quân đội, người này là Lý Ban, phó của Văn Tiến Dũng. Văn Tiến Dũng là cục trưởng, Lý Ban là cục phó. Ông Giáp mới đưa danh sách đó cho Bác, Bác bảo đốt ngay đi, thay bằng ấy người thì quân đội không còn cán bộ. Nguyễn Hữu An, Ðặng Vũ Hiệp đều trong danh sách ấy cả, vì thuộc trí thức. Theo họ, chấn chỉnh quân đội trước để chuyển sang tổng phản công. Lúc đó ta tin tưởng quá nhiều vào Trung Quốc, vì các ông Trang Ðiền, Chu Hạ sang nói khi nào quân giải phóng "nam hạ" thì sẽ giúp Việt Nam đánh Pháp.
Ðầu năm 1950, Bác cùng Bộ Chính Trị phân tích tình hình, mối quan hệ giữa thế và lực. Lực của ta còn yếu, mới có một đơn vị tổ chức thành Ðại Ðoàn 308. Còn lại là tiểu đoàn và trung đoàn. Lực lượng thực sự cũng yếu. Tổng phản công lúc này cũng khó. Chỉ hy vọng ở cái thế. Bác đã viết trong "Học đánh cờ": Lực yếu nhưng thế mạnh thì lực sẽ tăng. Về lý luận thì đúng, nhưng còn trong điều kiện cụ thể lại khác. Nên ta tính năm 1950 chưa thể tổng phản công được. Vi Quốc Thanh chuẩn bị, mọi việc nhất nhất xin ý kiến của Mao. Mùa Thu năm 1950, ta đánh chiến dịch Biên Giới Ðường Số 4. Trần Canh trực tiếp sang giúp. Tôi nghe nói lúc đầu ta định đánh từ Cao Bằng (theo ý ông Giáp). Trần Canh nói ta nên đánh Ðông Khê. Vì Ðông Khê là tuyến chính nhất ở trên này. Mà đánh vào điểm yếu thì cả phòng tuyến của địch sẽ bị rung. Ðánh vào điểm mạnh thì ta chưa đủ sức. Ðúng là Trung Quốc có công giúp ta trong trận Biên giới. Sau thắng lợi mới, tổng kết chiến dịch và sau đó là tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, thay đổi lại tổ chức quân đội.
Thế là năm 1950-1951 đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội. Các chỗ khác họ chưa đụng tới. Ðại Hội Ðảng ta năm 1951, đại biểu nước ngoài tới dự chỉ có La Quý Ba, bên Kampuchia có Xiêng Hiêng (sau phản bội), phía Lào có một đại biểu. Tại đại hội, La Quý Ba phát biểu chủ yếu về thuế nông nghiệp. Sau đó bắt đầu đánh thuế. Họ đem các nề nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau đại hội ta không nói gì đến cải cách ruộng đất, chỉ thấy nói đến lý thuyết ba giai đoạn, vì thế nên mùa Hè năm 1952, Mao Trạch Ðông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải thực hiện cải cách ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa, Bác mới quyết định phải thực hiện cải cách ruộng đất. Bác viết một bài nhan đề, "Terre et eau" (đất và nước), ký tên là Le Ding, đăng ở tạp chí "Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ mới". Bác nói đại ý: Ðất và Nước bao giờ cũng đi liền với nhau, muốn giải phóng nước phải đưa đất cho dân. Bác nói khéo để nói lên việc phải cải cách ruộng đất. Năm 1952, sau khi đi Trung Quốc và Liên Xô về, Bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định cải cách ruộng đất. Trung Quốc cử đoàn cố vấn sang, bao gồm cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn tuyên truyền. Ðoàn cố vấn cải cách ruộng đất do Kiều Hiểu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây. Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Ðảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành cải cách ruộng đất đến lúc dừng là 3 năm. Khi đó tôi thường được dự họp Bộ Chính Trị do đó cũng biết một số việc. Ðó là việc làm thí điểm ở đồng bằng và chọn đồn điền Nguyễn Thị Năm. Nguyễn Thị Năm tức là Cát Thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở Cục Chính Trị của Văn Tiến Dũng. Gia đình bà trong dịp Tuần Lễ Vàng có hiến 100 lượng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội Phụ Nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Ðức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đình Nguyễn Thị Năm cũng giống như các gia đình Ðỗ Ðình Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ Chính Trị, Bác nói, "Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa". Sau cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói, "Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải". Và họ cứ thế mà làm. Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức khác của Ðảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo Cách Mạng Tháng Tám thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953? Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Ðảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp dừng lại, nếu không thì tan nát hết. Sau này có những phiên họp Bộ Chính Trị tôi hay ngồi lại cùng Bác nói chuyện. Có lần Bác trầm ngâm nói, "Mình đã nói để kháng chiến xong đã, mới tiến hành cải cách ruộng đất, cứ ép mãi. Mà nếu có làm cũng làm theo cách ta, chứ không theo họ."
Ðánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản là do Trung Quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng phần nào, còn là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh. Ðảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách, cải cách lúc đó là như thế. Do đó khi Cách Mạng Tháng Tám thắng lợi, không khí vui mừng đến như thế, mà chiến thắng Ðiện biên Phủ không khí không được vui bằng.
Tôi nhớ có chuyện thế này, đầu năm 1951, lúc đó tôi là chánh văn phòng của tổng bí thư nên được dự các cuộc họp của Thường Vụ Trung Ương. Trong một cuộc họp Thường Vụ Trung Ương, Bác nói Stalin không được như thế đâu, chỉ vì người ta cần có một ngọn cờ mà đưa lên như thế. Nghĩa là Bác biết rõ Stalin. Người không sùng bái, cũng như không sùng bái Mao Trạch Ðông. Nhiều lúc Bác cũng phải ngoại giao. Cũng như Bác không thích gì Tưởng Giới Thạch, nhưng Bác vẫn dịch cuốn "Trung Quốc mệnh vận" do Tưởng viết, rồi đem biếu Trương Phát Khuê. Tranh thủ để giữ vững chính quyền, giảm được kẻ thù. Bác hết sức tinh trong nhìn nhận tình hình chính trị. Nhưng người ít nói. Nhiều người không biết cứ tưởng Bác mơ hồ trong vấn đề này khác. Chính trị Bác sắc sảo, nhưng người rất ghét nói ba hoa. Bác bao giờ cũng vì dân, vì nước, chứ không vì cá nhân mình. Nhiều người sắc sảo nhưng lại vì bản thân mình nhiều, củng cố vị trí cá nhân mình nhiều hơn. Nếu người lãnh đạo cách mạng nào cũng được như Bác thì không bao giờ chính quyền bị đổ, vì Bác lúc nào cũng có Ðảng có dân, quan hệ với dân chặt chẽ, không bao giờ làm điều gì vì mình, tất cả đều xuất phát vì nhân dân. Tôi cho rằng hiểu được Bác không dễ, làm như Bác càng khó hơn.
(...)
Tìm hiểu về Bác, tôi thấy Bác có 10 nỗi đau lớn (1)
Một là gia đình tan nát. Mẹ và người em út mất sớm vì nhà nghèo không đủ tiền mua thuốc, không ai chăm sóc, trong lúc bố đi vắng. Cụ Nguyễn Sinh Sắc bị thù oán nên bị hại. Tính cụ ngay thẳng, phê phán thẳng thắn những người xấu và làm theo ý mình cho là phải. Bọn quan lại ghét cụ. Nhân có một người bị phạm tội đưa đến, lệ ngày xưa trước khi xử án phải nọc người đó mấy chục roi trước. Chẳng may người phạm tội bị bệnh từ trước nên sau khi bị đánh trả về một thời gian người ta chết. Nhân việc này mới cách chức cụ và đày đi biệt xứ. Còn ông anh và bà chị Bác cũng bị tù đày, rồi sau mất sớm.
Nỗi đau thứ hai là, sau vụ chính biến Tưởng Giới Thạch, Bác đi Liên Xô. Trước đó Bác phụ trách phòng Ðông Nam Á của Quốc Tế Cộng Sản. Bác có đi dự Ðại Hội 5 Quốc Tế Cộng Sản nhưng không được bầu vào ban chấp hành. Lần này sang, do cách hoạt động của mình, Bác bị Liên Xô nghi ngờ là chưa đủ tiêu chuẩn cộng sản. Sang Liên Xô Bác không được giao việc gì cả, không có chức vụ chính thức trong tổ chức quốc tế. Bác xin về, họ không cho tiền. Sau Bác phải xin tiền bạn bè để về. Bác về Xiêm tìm đến các gia đình người Nghệ như gia đình cụ Ðặng thúc Hứa. Bác hoạt động trong giới Việt kiều. Sau đó Bác có sang cả Lào để gây dựng cơ sở ở đó. Như thế việc Bác về Xiêm là do Bác chủ động chứ không phải là do quốc tế phân công. Nghe tin ở nước nhà giải tán Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội để lập Ðảng Cộng Sản. Bác cho rằng chưa phải lúc. Bác cho rằng lúc đầu hãy tập hợp thanh niên và giương cao ngọn cờ yêu nước đã. Có tổ chức Ðảng Cộng Sản chỉ là tổ chức bí mật chứ chưa đưa Ðảng Cộng Sản ra và nói đấu tranh giai cấp vội, cứ nói đánh Tây cho quần chúng dễ hiểu. Theo tôi vì sao lại lập Ðảng Cộng Sản? Chuyện này có lẽ bắt nguồn từ Ðảng Cộng Sản Pháp. Ðảng Cộng Sản Pháp sợ liên lụy không dám bênh vực phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa nữa. Sau Cách Mạng Tháng Mười, hai người Cộng Sản Pháp sang Liên Xô gặp Lênin là Frossard và Cachin. Frossard không đồng ý với Lênin một số điểm cho nên về nước không được dùng mà chỉ có Cachin được dùng. Những điều này tôi đoán lúc đầu Bác không biết, vì lúc đó Bác đang là một nhà cách mạng chân thành trong sáng, không nghĩ đến những điều phức tạp bên trong. Ðảng Cộng Sản Pháp cho rằng Bác không lập ra Ðảng Cộng Sản mà chỉ tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, lại phê phán Ðảng Cộng Sản Pháp khá nhiều, trên báo chí và ở Ðại Hội Quốc Tế Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản Pháp có ý không tán thành Bác. Năm 1923, Nguyễn Văn Tạo là học sinh bãi khóa ở Sài Gòn được sang Pháp học, được kết nạp vào Ðảng Cộng Sản Pháp, rồi vào trung ương ngay. Nguyễn Ái Quốc không được bầu vào trung ương, Bác làm ở Ban Thuộc Ðịa, Ðảng Cộng Sản Pháp cử 3 người trong đoàn Pháp sang Ðại Hội 6 Quốc Tế Cộng Sản, trong đó có Nguyễn Văn Tạo. Nguyễn Văn Tạo đề nghị là ở Ðông Dương điều kiện đã chín muồi, đề nghị cho thành lập Ðảng Cộng Sản. Sau đó mới tác động đến nhóm Bắc kỳ gồm Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Ðức Cảnh, là ba người hăng hái nhất lập ra Ðông Dương Cộng Sản Ðảng, đề nghị giải tán Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội. Việc đó chính là phê phán Nguyễn Ái Quốc, hay gọi là sự sửa sai đối với Nguyễn Ái Quốc. Nhưng Bác vẫn im lặng tìm cách sửa sai việc đã rồi, vì ba tổ chức tìm cách chống nhau, gây chia rẽ. Sau Lê Văn Lương nói với tôi là khi Bác về, Trịnh Ðình Cửu có hỏi Bác giấy ủy nhiệm của Quốc Tế Cộng Sản, vì Bác nói là quốc tế cử về. Bác trả lời, "Ðồng chí thử tưởng tượng xem, nếu tôi mang trong người giấy ủy nhiệm của Quốc Tế Cộng Sản, thì liệu tôi có về được đến đây không?". Trong số những người dự hội nghị hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản có Lê Hồng Sơn (Ðông Dương Cộng Sản Ðảng). Có người nói không có Ðông Dương Cộng Sản Ðảng là không đúng, Người sáng lập An Nam Cộng Sản Ðảng là Hà Huy Giáp, nhưng anh theo quan điểm công nông, đưa công nhân lên là chính, nên mới đưa Hạ Bá Cang lên. Hạ Bá Cang, Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm được cử đi dự hội nghị hợp nhất. Nhưng Hạ Bá Cang bị bắt ở Hải Phòng nên không dự được. Ðại diện cho Bắc Kỳ là Trịnh Ðình Cửu và Nguyễn Ðức Cảnh. Bác đưa ra chính cương vắn tắt và điều lệ vắn tắt, thật sự là Bác đã trở lại đường cách mạng với 3 mục tiêu: Ðộc lập, tự do, hạnh phúc. Mà dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc chính là tư tưởng của Tôn Văn. Nhưng cách thực hiện khác hoàn toàn. Tôn Văn dùng cách mạng tư sản. Bác là làm cách mạng nhân dân, cách mạng quần chúng rồi tiến dần lên cách mạng xã hội chủ nghĩa thực sự. Bác nói là làm từ từ, dần dần. Tiến lên chủ nghĩa xã hội ngay làm sao được với một nước có nền nông nghiệp lạc hậu. Mẫu của Stalin không phải đâu cũng áp dụng như thế. Nhiều ông cách mạng còn trẻ, kinh nghiệm ít, cứ tin theo sách, nhưng Bác không khờ như thế.
Năm 1931-1932 ở Hương Cảng, Bác không có chức vụ gì, nhưng vì sự nghiệp cách mạng nên Bác vẫn làm. Bác gửi thư cho Quốc Tế Cộng Sản đề nghị giao việc, vì thời gian đó Bác chỉ làm nhiệm vụ của một hộp thư. Ðường giao thông của ta với Pháp bị vỡ do một anh thủy thủ Pháp bị bắt khai ra. Khi tôi ở trong tù thì được thông báo cho biết là Trần Văn Giàu bị bắt khai ra đường dây, nhưng sau này tôi hỏi lịch sử Ðảng Sài Gòn, họ nói có tài liệu chứng minh là không phải Trần Văn Giàu khai. Mật thám tìm được chỗ Bác ở và bắt Bác. Việc Bác được tha là nhờ luật sư Loseby. Ông luật sư cãi cho Bác là ông Stafford Cripps sau này là bộ trưởng dưới thời Thủ Tướng Churchill. Việc Bác bị bắt rồi lại được tha, Liên Xô không hiểu, họ nghi ngờ có điều gì phức tạp trong vụ án. Tại sao lãnh tụ cộng sản mà được đế quốc tha yên ổn, cho nên trong vùng 4 năm họ không giao việc gì. Bác là nhân viên thường ở Ban Thuộc địa. Sau đó Bác nhận làm nghiên cứu sinh phó tiến sĩ, nhưng Người rất chán. Tại Ðại Hội lần thứ 7 của Quốc Tế Cộng Sản, Bác không có cương vị gì cả. Ðại hội lần thứ nhất của Ðảng ta họp trước đó, bầu Bác là ủy viên dự khuyết, và còn ghi rõ là chỉ công tác ở nước ngoài. Chính vì thế nên Bác không có tên trong đoàn đại biểu của Ðảng ta sang dự Ðại Hội lần thứ 7 của Quốc Tế Cộng Sản. Ðoàn đại biểu của Ðảng Việt Nam chỉ có Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong. Sau khi xin việc mãi không được, Bác xin về nước. Gần đây tôi có gặp một nhà trí thức Việt Nam, người này có gặp một nhà trí thức Pháp, họ nói Bác suýt bị hạ vì những chuyện lôi thôi này. Ông lãnh tụ Nhật Bản Nosaka Sando cũng bị rầy rà. Những chuyện này Bác biết cả.
Thời gian này quan hệ với Trung Quốc không gay go, vì tình bạn của Bác với Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Diệp Kiếm Anh.. khi Bác ở Quảng Châu là thân thiết. Năm 1938-39 Chu Ân Lai cũng giúp đỡ Bác nhiều. Chỉ có sau này với Mao Trạch Ðông là Bác gặp khó khăn thôi.
Về việc Bác bị bắt năm 1942 ở Trung Quốc, tôi được biết như sau: Chuyện này do Hoàng Ðiền, đại tá về hưu, người được dự các lớp huấn luyện ở Liễu Châu năm 1944, nói với tôi. Mục đích chuyến đi này của Bác là gặp Chu Ân Lai để hỏi thăm tình hình quốc tế. Lúc Bác bị bắt, trong người có tấm danh thiếp: Hồ Chí Minh, Việt Nam hoa kiều ký giả và một số giấy tờ khác. Hoàng Ðiền nói Trương Bội Công đứng đầu bọn tình báo của Trương Phát Khuê đã bố trí Trần Báo ở với những người cách mạng của ta thường đi qua để bắt. Tên này là em bà Ngô Khỏa Duy, vợ ông Hồ Học Lãm, người đã biết rõ Bác Hồ. Bác bị hành hạ khổ sở. Nhưng nỗi đau nhất của Bác là người bị bắt trong lúc tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động. Nếu ở nhà lúc đó không có anh Trường Chinh thì thật sự chúng ta không có ngày nay đâu. Tả lại phần nào nỗi đau của mình trong những ngày bị bắt giữ, Bác có viết bài thơ, "Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do." Càng cay đắng hơn là Bác bị bắt trong lúc cách mạng rất cần người.
Nỗi đau thứ tư là sau năm 1945, Liên Xô, Trung Quốc không công nhận ta. Ðảng Cộng Sản Pháp cũng nghi ngờ.
Nỗi đau thứ năm là 1950-1952, Mao Trạch Ðông và Stalin gọi Bác sang phê phán gay gắt, buộc phải thay đổi đường lối, dẫn ta đến sai lầm trong cải cách ruộng đất. Tuy nhiên Trung Quốc giúp ta chỉnh lại quân đội có phần đúng. Mục đích của họ là sửa lại cả quân sự, chính trị, tổ chức, cách dùng người. Nhân nói về chính sách dùng người của Bác, tôi muốn kể chuyện này. Có lần trong một cuộc hội nghị về công tác tổ chức, Lý Ban nói, "Ðối với con cán bộ khi kết nạp vào Ðảng không cần phải thời gian dự bị, mà được chính thức ngay." Bác nói ngay, "Chú nói như thế không đúng. Ðối với cách mạng phải xem cụ thể người ấy như thế nào. Vì có chuyện hổ phụ sinh khuyển tử, tức là hổ đẻ ra chó. Phan Bá Ngọc là con của Phan Ðình Phùng đã đưa mật thám bắt Phan Bội Châu. Nhưng cũng có những địa chủ lớn như Bành Bái, địa chủ nổi tiếng ở tỉnh Quảng Ðông lại là người tiến bộ, Ðảng Cộng Sản coi là anh hùng. Cho nên không được máy móc, không được xem nguồn gốc xuất thân, lý lịch làm quan trọng."
Họ sửa khá nhiều nên Bác đau lòng. Bao nhiêu nhân sĩ Bác lôi kéo tranh thủ, sau đó phải gạt hết, có những người còn bị đấu tố nữa.
Nỗi đau thứ sáu là Bác không ngờ Liên Xô và Trung Quốc lại xung đột, mâu thuẫn đến gay gắt như thế. Bác nói phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc lãnh đạo. Nhưng Liên Xô và Trung Quốc cùng lãnh đạo thế nào được. Một nước chỉ có một mặt trời. Mao Trạch Ðông là mặt trời hay Stalin là mặt trời đây. Liên Xô hay Trung Quốc đứng đầu lãnh đạo? Chỉ có một mà thôi. Hai bên xung đột nên bên nào cũng muốn lôi kéo Bác về phía mình. Bác bị giằng xé trong suốt những năm cuối của cuộc đời.
Nỗi đau thứ bảy là sự bất hòa giữa mấy người lãnh đạo của ta. Không phải mọi việc đều êm đẹp cả. Họ nhất trí với nhau về quan điểm đánh Mỹ, nhưng quan điểm quốc tế không thống nhất, về quan hệ cá nhân với nhau không thuận lợi. Sau này Bác bảo tôi viết bài "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân". Ý Bác muốn nói mấy ông này. Bài đó tôi viết Bác sửa lại nhiều. Sau Bác nói anh Tố Hữu cùng sửa nữa.Tôi được biết từ năm 1966, cứ mỗi chiều Thứ Bảy, Bác lại làm cơm và nói, "Mấy chú cứ đến đây ăn cơm vui vẻ với nhau, có gì khúc mắc cứ nói hết ra. Không nên để bụng." Anh Nguyễn Chí Thanh làm thư ký cho những cuộc họp đó cho đến khi anh đi vào Nam. Sau anh Lê Văn Lương nói lại với tôi là họ cứ đến ăn cơm, chén hết rồi họ về, chẳng ai nói với ai điều gì. Nếu không biết việc này thì không hiểu hết tại sao trong di chúc Bác lại dặn phải đoàn kết toàn Ðảng, từ trung ương đến địa phương. Trên mà đã đoàn kết rồi thì cần gì nói đến cơ sở nữa. Trên đoàn kết mà dưới không thì lôi thôi to, các ông trị cho chết. Chính vì thế mà Bác rất buồn. Có thể có một vài hiện tượng, có đồng chí nào muốn vượt Bác. Bác biết hết nhưng Bác không quan tâm.
Nỗi đau thứ tám là tình hình trong nước và thế giới trước khi Bác qua đời đều căng thẳng, nên đầu óc Bác không được thư thái. Cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài, nhân dân ta hy sinh nhiều của, nhiều người, Bác rất đau lòng. Tuy Bác nói là trường kỳ kháng chiến nhưng thực sự Bác không muốn cuộc chiến tranh phải kéo dài. Từ đầu đến cuối, Bác không muốn có chiến tranh. Cho nên mới có cuộc hòa hoãn với Pháp. Ðối với Mỹ cũng thế, Bác muốn tranh thủ, nhưng không được mới phải đánh. Cộng thêm những năm tháng ốm đau kéo dài (trên 3 năm), có lúc người cáu gắt cũng vì lẽ đó. Tất cả những nỗi đau này Bác không thố lộ cùng ai, kể cả với anh Lê Duẩn, anh Trường Chinh. Nếu chúng ta không hiểu những nỗi đau của Bác, không hiểu được sự chín chắn, đúng đắn của Bác trong chính trị thì ta sẽ giáo điều, nói không sát.
Tổng kết lại, cho đến nay Ðảng ta có 4 thắng lợi lớn và 4 thất bại. Bốn thắng lợi thì đã rõ: Thứ nhất là tổng khởi nghĩa, thứ hai là kháng chiến chống Pháp, thứ ba là kháng chiến chống Mỹ, thắng lợi thứ tư là thực hiện công cuộc đổi mới đang thắng lợi dần dần. Thắng lợi trong công cuộc đổi mới tuy Bác không còn, nhưng đường lối độc lập tự chủ, tức là trở lại với chính mình, trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh mới đổi mới được. Cứ để như cũ chắc hôm nay nước đổ rồi. Bốn thắng lợi đều do tư tưởng độc lập tự chủ, do tư tưởng Hồ Chí Minh quyết định.
Bốn lần thất bại là do học theo Trung Quốc, học theo Liên Xô. Ðó là xông thẳng tới chính quyền mà là chính quyền công nông thôi, đó là cải cách ruộng đất, đấu địa chủ. Bác không phải là không nói tới đấu tranh giai cấp. Cụ nói đấu tranh giai cấp phụ thuộc vào đấu tranh dân tộc (...)
Sai lầm lớn nhất của chủ nghĩa xã hội là cứ xông thẳng tới chính quyền. Và khi đã nắm được chính quyền rồi, đáng lẽ phải thực hiện dân chủ thì lại nhấn mạnh chuyên chính. Cái sai nữa là, sau khi giành được chính quyền rồi thì thực hiện công hữu ngay lập tức, công hữu cực đoan, tức là vô sản hóa hơn cả tư sản. Mọi người không ai có gì cả, chỉ là người làm công ăn lương, nên động lực mới yếu đi. Marx dự báo khoa học có cái đúng cái trật. Nhưng về xu thế lịch sử là Marx nói đúng. Chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại dài lâu mà nó phải thay thế bằng công bằng hơn, cuối cùng là chế độ công hữu. Hiện tại không phải là công hữu hết mà chỉ cần xây dựng một nền kinh tế hợp tác là đủ. Chúng ta chưa dám nói khác. Người cầm quyền lại càng sợ nói khác đi.
Nói đến Hồ chí Minh không ai là không biết đến câu nói nổi tiếng của ông, " Không có gì quý hơn độc lập tự do". Ðể giành lại độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam, ông đi theo Quốc tế thứ ba để mong nhận được sự viện trợ kinh tế và quân sự cần cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Có điều đau lòng là khi gia nhập vào Quốc tế thứ ba, ông gần như hoàn toàn lệ thuộc và chịu sự điều động của hai nước đầu nậu trong Quốc tế thứ ba là Liên xô và Trung quốc để rồi gây ra những tội ác tày trời đối với dân tộc.
Theo sự tiết lộ của Tổng biên tập báo Nhân dân là ông Hoàng Tùng trong bài viết nói trên, dù Hồ chí Minh tỏ ý miễn cưỡng không muốn tiến hành cuộc cải cách ruộng đất, nhưng dưới áp lực và sự thúc ép của Mao trạch Ðông ( Trung quốc ) và Stalin ( Liên xô), ông đã để cho đoàn cố vấn Trung cộng vào Việt Nam để tổ chức đấu tố và xử bắn con dân Việt Nam. Cái đau đớn và mỉa mai là đã đem nạn nhân đầu tiên ra bắn lại là người đã có công đóng góp tiền bạc và công sức trong cuộc kháng chiến chống Pháp là bà Nguyễn thị Năm. Người ta nói bọn Cộng sản có một lối ăn ở " lừa thầy phản bạn " đúng là không sai.
Nên nhớ là cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành mạnh mẽ sau 1954, nghĩa là sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, người ta không hiểu là sau khi kháng chiến chống Pháp thành công rồi mà Hồ chí Minh lại phải chịu lệ thuộc và chấp nhận sự sai khiến của Trung Cộng để làm cuộc cải cách giết dân lành vô tội như thế. Nếu cuộc kháng chiến chống Pháp còn dài mà Hồ chí Minh đành chiều ý Trung cộng làm cuộc cải cách ruộng đất để nhận viện trợ chống lại Pháp thì điều đó còn có thể dung thứ được, chứ kháng chiến chống Pháp xong rồi mà vẫn quỳ lụy và chấp nhận theo lệnh sai khiến của ngoại bang để phát động chiến dịch cải cách ruộng đất tàn sát dân lành là một tội ác khó có thể tha thứ.
Giáo sư Nguyễn mạnh Tường, khi qua du lịch Pháp sau 1975, trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo Quê Mẹ, đã cho biết ý kiến là trong lịch sử Việt Nam từ hồi lập quốc đến nay chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp tàn bạo như cuộc cải cách ruộng đất. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của cố vấn Trung Cộng. Ðiều đó cho thấy chính quyền Hồ chí Minh lệ thuộc vào ngoại bang Trung cộng như thế nào.
Học giả Hoàng xuân Hãn, một trí thức dù có nhiều cảm tình với Hồ chí Minh và chính phủ Cộng sản Việt Nam, cũng đã nói cho Ðạo diễn Trần văn Thủy biết là " Cái mất mát lớn nhất bởi những sai lầm trong cải cách ruộng đất là nó đã phá vỡ mất nông thôn Việt Nam và phá vỡ mất lòng tin. Cái nguy hại của cải cách ruộng đất là ở chỗ nó đã phá vỡ một tế bào quan trọng vào bậc nhất của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là LÀNG QUÊ."
Nhà văn Dương thu Hương cũng có đề cập ít nhiều về những tội ác của cải cách ruộng đất trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng " Những thiên đường mù " của bà. Nhưng có một số người đọc sách cho biết những gì Dương thu Hương nói về cải cách ruộng đất trong cuốn tiểu thuyết này cũng chỉ mới lột tả chừng 5 đến 10 phần trăm những sự thật kinh hoàng của cuộc cải cách tàn bạo có một không hai này.
Hoàng Tùng trong bài viết trên cứ nói đến chuyện miễn cưỡng của Hồ chí Minh trong chuyện phải tiến hành cải cách ruộng đất giết dân như là một cách để chạy tội cho Hồ chí Minh. Thật ra, nếu Hoàng Tùng nói đúng, thì rõ ràng Hồ chí Minh không có quyền hành gì cả trong chuyện lãnh đạo đất nước. Bao nhiêu sinh mạng nhân dân đã gục ngã trong cuộc kháng chiến chống Pháp để rồi khi cuộc kháng chiến thành công, Hồ chí Minh không tạo dựng nổi một nền độc lập cho đất nước, dù không thích trò cải cách ruộng đất ( theo như Hoàng Tùng trình bày), Hồ chí Minh vẫn để cho ngoại bang Trung cộng đem cố vấn sang tổ chức đấu tố giết dân lành Việt Nam. Chính những tên cố vấn Tàu cộng này đã ấn định số phần trăm địa chủ cần phải triệt hạ trong khi của cải và đất đai của địa chủ Tàu khác xa địa chủ Việt Nam.
Sau 3 năm tiến hành cải cách tàn bạo, Hồ chí Minh và chính phủ Việt Nam mới khám phá ra là Trung cộng không phải bày ra cải cách ruộng đất để tạo dựng sự công bình cho người dân Việt Nam mà thâm ý là đánh cho tan nát cơ cấu của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Hồ chí Minh đã kịp thời ngưng lại và lên tiếng xin lỗi nhân dân và cho hạ tầng công tác những cán bộ cao cấp có liên quan đến cải cách ruộng đất như Trường Chinh, Hồ viết Thắng để xoa dịu nỗi căm phẫn của nhân dân. Ai cũng còn nhớ ở vùng Quỳnh Lưu đã có chuyện nổi loạn trong thời kỳ cải cách này. Tuy nhiên trong di chúc viết ngày 14 tháng 8 năm 1969, Hồ chí Minh cho biết chuyện cải cách ruộng đất là do cấp dưới làm, ông không hay biết gì cả, dù sau này ông biết nhân dân rủa oán trách ông rất nhiều về những sự tàn bạo trong cải cách ruộng đất. Nhiều học giả ngoại quốc nghiên cứu cho biết Hồ chí Minh lên án những vụ đánh người, giết người trong cải cách nhưng họ nghĩ rằng với chức vụ Chủ tịch Ðảng và Chủ tịch Ðảng, ông phải chịu trách nhiệm về cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo này.
Thật ra không phải chờ đến cải cách ruộng đất chính phủ Hồ chí Minh mới lộ ra là không có thực quyền. Khi hòa hội Genève sau chiến thắng Ðiện biên Phủ năm 1954 quyết định chia đôi nước Việt Nam thì quyết định dùng vĩ tuyến 17 làm đường ranh chia cắt cũng là do quyết định của phái đoàn Liên xô và Trung Cộng và phái đoàn chính phủ Việt Minh do Phạm văn Ðồng hoàn toàn không được quyền quyết định điều gì cả. Nói như thế để thấy mức độ lệ thuộc và cung cách tay sai của Hồ chí Minh và chính phủ của ông vào Quốc tế Cộng sản đến độ họ toàn quyền điều động và quyết định mọi chuyện quan trọng trên bàn hội nghị có liên quan đến đất nước Việt Nam mà chính phủ Hà nội không được pháp can dự vào gì cả.
Hoàng Tùng cũng nói chuyện Hồ chí Minh bị thất sủng, bị Stalin cho ngồi chơi xơi nước trong mấy năm liền vì không tin tưởng. Mao trạch Ðông cũng đối xử tệ bạc với Hồ chí Minh như Hoàng Tùng không giải thích lý do tại sao. Bị ruồng rẫy như thế mà đến giây phút hấp hối gần lìa trần vẫn viết di chúc muốn đi gặp Các Mác và Lê nin thì đủ thấy Hồ chí Minh nô lệ ý thức hệ và thiếu liêm sỉ như thế nào. Phải chăng vì bị Stalin đánh giá là theo chủ nghĩa " dân tộc chủ nghĩa cải lương " từ những ngày xa xưa nên Hồ chí Minh muốn chứng tỏ mình là người vô sản quốc tế thứ thiệt, đến lúc gần lâm chung vẫn muốn gửi linh hồn về với tổ sư Mác-Lê?
Chuyện Hoàng Tùng kể Hồ chí Minh tỏ ra đau buồn khi thấy Liên xô và Trung quốc xung khắc, hiềm khích nhau cho thấy sự đau buồn của Hồ chí Minh là một mối đau buồn nhảm nhí, vô duyên, và không thiết thực. Trong di chúc để lại cho chế độ Hà nội, Hồ chí Minh cũng đã nói lên điều này. Ðúng ra, Hồ chí Minh cần phải nhận thấy và học hỏi hai đàn anh Liên Xô và Trung cộng đều đặt chủ nghĩa dân tộc mình lên trên chủ nghĩa quốc tế vô sản. Vì đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên nên hai đàn anh này mới có chuyện hục hặc, tranh chấp nhau. Bản thân Hồ chí Minh quá mù quáng và cuồng tín nên mới đặt chủ nghĩa quốc tế vô sản lên trên chủ nghĩa dân tộc, sẵn sàng nghe lời đàn anh để thi hành những nghĩa vụ quốc tế dù chuyện đó đưa đến chuyện giết dân lành Việt nam vô tội. Ðàn em đệ tử của Hồ chí Minh sau này như Lê khả Phiêu, Ðỗ Mười, Phan văn Khải, và đứa con rơi tài hèn trí đoản Nông đức Mạnh thì lại đem tổ quốc giang sơn đi dâng hiến cho kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng cũng là do không đặt chủ nghĩa dân tộc lên trên hết. Chúng dâng đất cho Trung Cộng để mong đổi lấy sự an toàn cho bản thân và chế độ mà Trung cộng hứa hẹn bao che, nâng đỡ cho chúng. Ðúng là " thầy nào, trò nấy ", thầy thì theo chủ nghĩa quốc tế vô sản tổ chức cải cách ruộng đất giết dân lành vô tội, trò thì đem giang sơn gấm vóc do tiền nhân tốn không biết bao xương máu để lại, đem đi bán tháo bán đổ cho ngoại bang. Thật là khốn nạn và tồi bại đến thế là cùng ! Ðã đến lúc những người đấu tranh và toàn dân phải đứng dậy để quật đổ cái chế độ hại dân, bán nước này. Ðể chậm ngày nào là tai họa cho đất nước và nhân dân ngày ấy.
Trong bài viết Hoàng Tùng có nói xa gần bóng gió đến chuyện có những người muốn tiếm quyền Hồ chí Minh qua câu viết " Có thể có một vài hiện tượng, có đồng chí nào đó muốn vượt Bác. Bác biết hết nhưng Bác không quan tâm ".Thật ra sự thật phũ phàng là những người đồng chí đàn em đã truất phế uy quyền của Hồ chí Minh như Học giả Pháp Pierre Brocheux trong lần trả lời đài RFI ( ngày 2 tháng 12 năm 2003) và BBC ( ngày 26 tháng 7 năm 2003), đã nhận xét như sau, " Trong vụ án xét lại chống Ðảng cũng vậy, ông Hồ chí Minh cũng đã nhận ra bản chất của chế độ nhưng chẳng làm gì được. Hơn nữa, kể từ năm 1960 chính nhóm Lê Duẩn, Lê đức Thọ, Nguyễn chí Thanh mới thực sự là những người nắm quyền. Theo nghiên cứu của tôi thì cả một giai đoạn trước khi qua đời, ông Hồ bị cách ly khỏi quyền lực, tức là không hề có quyền gì. Ông ấy bị biến thành một biểu tượng." Rồi đến những tiết lộ của Nguyễn văn Trấn, Hoàng văn Hoan, Vũ Kỳ đều cho thấy ông bị phe Lê Duẩn, Lê đức Thọ, Trần quốc Hoàn coi thường và đày đọa, nhất là vào những năm cuối đời. Sau này người ta còn tìm thấy bản di chúc viết ngày 14 tháng 8 năm 1969 của Hồ chí Minh cho biết ông đã bị nhóm Lê Duẩn cô lập và cho đầu độc chết dần chết mòn sau khi ông tìm cách liên lạc để tính chuyện hòa hợp và tặng Tổng thống Ngô đình Diệm hai cành đào vào mùa xuân 1963 ( Xin đọc hai bài " Bí ẩn chung quanh chuyện Hồ chí Minh bị thất sủng trong những năm cuối đời " và "Một cách lý giải về chuyện Hồ chí Minh bị mất quyền lực trong những năm cuối đời " của Trần viết Ðại Hưng trong cuốn sách " Bí ẩn về quyền lực và tình ái của Hồ chí Minh" đã xuất bản, hay có thể vào mạng " www.nsvietnam.com " tới trang Trần viết Ðại Hưng để đọc hai bài này). Không hiểu Hoàng Tùng có biết chuyện này không, hay biết mà không dám viết sự thật.
Riêng về chuyện cha ông Hồ là cụ Nguyễn sinh Huy bị mất chức được Hoàng Tùng kể lại một cách rất lâm ly bi đát rằng cụ Huy vì tính tình ngay thẳng, phê phán thẳng tay những người xấu nên bị bọn quan lại cùng thời ghét và tìm cách hạ bệ cụ. Ông Hoàng Tùng cho là cụ Huy xui xẻo đánh một can phạm có bệnh để từ đó đưa đến sự tử vong và làm cho cụ bị cách chức. Thật ra có một cách giải thích khác do một số người biết chuyện đưa ra thì cụ Huy, lúc ấy đang làm tri huyện Bình Khê thuộc tỉnh Bình Ðịnh, thuộc loại người nát rượu nên đã đánh can phạm là một nông dân tên Tạ đức Quang đến chết trong cơn say. Cụ Huy thuộc loại nghiện rượu nặng và khi say rượu, đã từng đánh các con trong nhà, ngay cả bà chị cả tên Thanh của ông Hồ cũng bị ăn đòn rất nặng. Cho nên chuyện ông tri huyện Nguyễn sinh Huy bị giáng chức là do lỗi lầm say rượu đánh chết người của ông chứ ông không hoàn toàn vô tội như lời kể của Hoàng Tùng để bênh vực cho sự thất thế của thân sinh ông Hồ. Ở đây cũng nói thêm sách báo Cộng sản thường lên án giới quan lại, cho họ là sản phẩm tệ hại của chế độ phong kiến dùng để đàn áp và bóc lột nhân dân. Chưa ai quên chuyện quan Tổng đốc Ngô đình Khôi ( anh cả của Tổng thống Ngô đình Diệm) và quan Thượng thư Phạm Quỳnh bị Việt Minh ở Huế đem ra bắn hồi 1945 vì bị xem là kẻ thù của nhân dân. Nhưng khi nói về thân sinh ông Hồ là quan tri huyện Nguyễn sinh Huy thì họ lại vẽ lên một hình ảnh hết sức đẹp đẽ. Họ cho ông cụ Huy là một sĩ phu của thời đại, vì bất mãn với quan trường và với chế độ cai trị của người Pháp nên đã đệ đơn từ chức để về sống cuộc đời dân thường, sinh sống bằng nghề thầy lang bốc thuốc ! Dĩ nhiên giới báo chí Cộng sản đã thêu dệt cuộc đời ông Hồ đẹp như một thiên anh hùng ca bất hủ thì họ phải tô vẽ cuộc đời của thân sinh ông Hồ sao cho hào hùng, đẹp đẽ. Có lẽ ông Hoàng Tùng, vốn là một cán bộ tuyên huấn văn hóa cao cấp, cũng không đứng ngoài ngoại lệ đó khi viết về thân sinh ông Hồ.
Nhà văn Nguyễn huy Thiệp trước đây có viết truyện ngắn đặc sắc "Vàng lửa" trong đó ông có mô tả về con người của vua Gia Long. Nhưng khi đọc kỹ người ta thấy nhà văn chuyên viết ẩn dụ này muốn mô tả con người Hồ chí Minh. Ở hoàn cảnh trong nước ông phải dùng lối văn ẩn dụ này để bày tỏ nhận định của mình về nhân vật " bất khả xâm phạm " Hồ chí Minh.
Hãy đọc thử vài đoạn văn mô tả vua Gia Long để thấy chân tướng của Hồ chí Minh:
" Nhà vua là một khối cô đơn khổng lồ. Ông đóng trò rất giỏi trong triều đình. Ông đi ra đi vào, ra các mệnh lệnh, chấp nhận sự tung hô của bọn quần thần. Ông là người cha nghiêm khắc của lũ con ích kỷ, đần độn. Là người chồng đáng kính của các bà vợ tầm thường.. Ông biết ông đã già, với bọn cung tần mỹ nữ trẻ đẹp ông bất lực. Ông biết rõ cái triều đình thiển cận ông dựng nên, hiểu rõ quốc gia mình nghèo đói. Ông luôn lo sợ bởi quyền lực nắm trong tay, nó lớn ngoài sức chứa một con người.
.. Tôi ( tôi đây là Phăng, một nhân vật trong truyện) ngạc nhiên tôi hỏi vì sao nhà vua " vốn xuất thân là một võ tướng " lại chịu được sự nhục mạ ấy. Ông cười, " Khanh chẳng hiểu gì. Vinh quang nào chẳng xây trên điếm nhục ? " Tôi ngồi nghe nhà vua, nhận thấy ông trải đời ghê gớm. Ông hiểu bản chất đời sống cộng sinh. Số phận ngẫu nhiên giao cho ông đứng trên đỉnh cao nhất, ông không dám phá vỡ bất cứ quan hệ nào làm hại đời sống cộng sinh đó, bởi phá vỡ nó, nghĩa là ngai vàng không còn đứng vững.
.. Vua Gia Long không đại diện cho ai, ông chỉ chịu trách nhiệm với mình. Ðấy là điều vĩ đại nhưng đê tiện khủng khiếp. Nhà vua có cách nhìn thực tiễn với từng khắc tồn tại như thế cũng là của dòng họ, của quốc gia, của dân tộc. Ông biết xót thân ông. Nguyễn Du thì khác, Nguyễn Du không biết xót thân ông. Ông thông cảm với những đau khổ của các số phận đơn lẻ mà không hiểu nổi đau khổ lớn của dân tộc. Ðặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Ðây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó. Vua Gia Long hiểu điều ấy và đây là nỗi cay đắng lớn nhất mà ông cùng cộng đồng phải chịu đựng. Nguyễn Du thì khác, ông không bao giờ hiểu điều ấy. Nguyễn Du là đứa con của cô gái đồng trinh kia. Dòng máu chứa nay điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình. Nguyễn Du ngập trong mớ bùng nhùng của đời sống, còn vua Gia Long đứng cao hẳn ngoài đời sống ấy. Người mẹ của Nguyễn Du ( tức nền chính trị đương thời) dấu diếm con mình sự ê chề và chịu đựng với tinh thần cao cả, kiềm chế. Phải ba trăm sau người ta mới thấy điều này vô nghĩa.
.. Vua Gia Long thì khác. Ông khủng khiếp ở khả năng dám bỡn cợt với tạo hóa, dám đem cả dân tộc mình ra lường gạt, phục vụ cho chính bản thân mình. Ông làm cho lịch sử sinh động hẳn lên. Ðấy là lòng tốt lớn của nhà chính trị. Lòng tốt lớn của nhà chính trị không chỉ là làm việc thiện với một số phận đơn lẻ mà còn là sức đẩy của ông ta với khối cộng đồng. Từng phần tử trong cộng đồng do luật tự nhiên chi phối sẽ tự tồn tại, định hướng và phát triển. Không có một sức đẩy mạnh, cả cộng đồng sẽ mọc rêu, mủn nát. Cộng đồng Việt là một cộng đồng mặc cảm. Nó bé nhỏ xiết bao bên cạnh nền văn mình Trung Hoa, một nền văn minh vừa vĩ đại, vừa bỉ ổi, lại vừa tàn nhẫn...
.. Tất cả những cố gắng của con người hướng về điều thiện đều là những cố gắng đau đớn, nhọc lòng. Ðiều thiện hiếm như vàng và sau đó phải được vàng bảo đảm nữa mới có giá trị thực.
Chúng ta sống vô nghĩa, nghèo khó và đau khổ trong những lý thuyết chắp vá hay ngụy biện, những mối bất hòa kỳ thị dân tộc và đẳng cấp, những kinh nghiệm sống của chúng ta mong manh và vụn vặt xiết bao. Ðến bao giờ, hỏi đến bao giờ, trên mặt đất này xuất hiện tiến bộ."
Ðoạn cuối truyện ngắn, Nguyễn huy Thiệp đã viết một câu mà không ai còn nghi ngờ gì nữa là Thiệp đã mượn vua Gia Long để nói về Hồ chí Minh:
"Triều Nguyễn của vua Gia Long lập ra một triều đại tệ hại. Chỉ xin lưu ý bạn đọc đấy là triều đại để lại nhiều lăng."
Nguyễn huy Thiệp phê phán triều Nguyễn Gia Long tệ hại đã để lại nhiều lăng nhưng ẩn ý muốn dè bĩu cái lăng to lớn nằm chình ình ở quãng trường Ba Ðình là lăng của Nguyễn khác, không phải là Nguyễn Gia Long mà là Nguyễn.. tất Thành ( tức Hồ chí Minh)!. Ở hoàn cảnh trong nước, ông phải dùng lối văn ẩn dụ để chuyển tải tư tưởng của mình một cách khôn khéo bằng cách kể chuyện đời xưa mà nói lên chuyện đời nay và tránh khỏi bị phiền toái bởi bộ máy kiểm duyệt khắt khe của nhà nước Cộng sản Việt Nam. Chuyện " Vàng lửa " không phải là truyện ngắn duy nhất mà Nguyễn huy Thiệp sử dụng lối văn ẩn dụ, mà hầu hết truyện ngắn của nhà văn nổi tiếng này đều được xây dựng trên nội dung ẩn dụ để chuyên chở ý tưởng của mình.
Nguyễn huy Thiệp dùng vua Gia Long để nói về Hồ chí Minh, có nghĩa là Thiệp muốn so sánh vua Gia Long với Hồ chí Minh vì hai người này có những điểm tương đồng. Nhưng quả thật là Gia Long khác Hồ chí Minh xa. Gia Long mượn tay người ngoại quốc ( Pháp ) về để đánh Tây Sơn, có thể nói tội của Gia Long cũng gần như tội của Lê chiêu Thống là " rước voi về giày mả tổ " vì chính về sự giao thiệp nhờ cậy của Gia Long với cố đạo Pháp như Bá đa Lộc, dần dần đưa đến chuyện Pháp xâm lăng Việt Nam với cái cớ là các vua triều Nguyễn cấm đạo Thiên chúa và tàn sát các giám mục người Pháp đi truyền đạo. Nhưng có một điểm cần được ghi nhận ở đây là dù giao hảo với Tây phương, Gia Long lúc nào cũng đề cao cảnh giác với Tây phương. Học giả Tạ trọng Hiệp, trong một dịp nói chuyện với nhà phể bình văn học Thụy Khuê, cho biết trong thời gian Gia Long cầm quyền ( 1802-1820), ông không gửi một phái đoàn nào đại diện triều Nguyễn đi công du Ðông Nam Á cả và đóng cửa lại xây dựng đất nước. Nhưng từ Minh Mạng trở đi thì Minh Mạng không thể tiếp tục chính sách đóng cửa của cha mình nữa và đã mở cửa buôn bán với Tây phương theo hai nhu cầu : 1) Thông tin về mặt chính trị và quân sự về sự đe dọa của Tây phương. 2) Tìm hiểu xem họ tổ chức thương nghiệp như thế nào, đồng thời mua bán với họ một số hàng hóa. Theo đó, ta có thể hình dung được là cuộc mở cửa của Việt Nam, nhìn ra nước ngoài, đã khởi sự từ đầu đời Minh Mạng cho đến hết đời Tự Ðức. Chúng ta bây giờ phê phán các vua quan nhà Nguyễn hoàn toàn " bế quan tỏa cảng" là không đúng. Họ có mở cửa đấy, nhưng cửa mở he hé tí thôi vì ngại ngùng trước dã tâm xâm lược của Tây phương. Và cuối cùng thì cũng bị Pháp xâm lăng. Nói tóm lại vua Gia Long là người tiếp xúc đầu tiên với Tây phương nhưng vẫn dè dặt trong mối quan hệ vì linh tính ông thấy bọn bạch quỷ Tây phương là một bọn không tốt lành gì, chỉ luôn dòm ngó để xâm lăng. Còn Hồ chí Minh, theo bài viết của Hoàng Tùng nói trên, khi đã tham gia vào Quốc tế thứ 3 ( do Lênin lập ra vào năm 1919) là say chủ nghĩa như say thuốc lào, sẵn sàng dâng hiến tất cả để tôn thờ chủ nghĩa vô sản ngoại lai và cuối cùng đưa đến hậu quả là để cho bọn Tàu cộng vào giết đồng bào ruột thịt của mình qua cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo. Về điểm này, Gia Long sáng suốt hơn Hồ chí Minh nhiều, ông không mê say mù quáng khi giao hảo bên ngoài và tuy có nhờ cậy ngoại bang nhưng ông luôn đề cao cảnh giác trước lòng dạ xấu xa của những người không cùng dòng máu Việt. Nước Việt Nam mất vào tay người Pháp chắc chắn không phải hoàn toàn do lỗi của ông, vị vua khai sáng nhà Nguyễn, mà phần lớn do khuyết điểm của những vị vua kế nghiệp tài hèn, đức mỏng.
Học giả Hoàng xuân Hãn, người đã từng có dịp nói chuyện với Hồ chí Minh trong thời kháng chiến chống Pháp, sau này có nhận xét như sau vể Hồ chí Minh trong buổi phỏng vấn với Thụy Khê của đài RFI:
" Xét về Hồ chí Minh thì phải có lâu năm sau này thì xét mới không thiên lệch. Hiện bây giờ thì người ta oán nhiều lắm. Oán ấy là oán Ðảng Cộng sản, những người có óc Marxiste hồi ấy. Chuyện đầu hết là tranh giành, chém giết những người bên những đảng quốc gia. Ðấy là một cái họ trách. Cái thứ hai là lúc cải cách ruộng đất, gọi là trong nước có người giàu, người nghèo, chênh lệch. Cái thứ ba: phương pháp của Marxiste, lúc ấy họ chỉ có một chiều, nghĩa là sự thật chỉ có một mà thôi. Không có sự thật thứ hai. Không được nói trái nhau. Nghĩa là họ không lý luận như người thường, cho nên sự oán với sự ghét nhiều lắm.
.. Ông Hồ chí Minh, cũng như tất cả những người ái quốc trong vùng Nghệ Tĩnh lúc ấy biết rằng không có súng không làm gì được cả. Cho nên cái đời chính trị của ông Hồ chí Minh, từ lúc sang Pháp, rồi đi với cụ Phan chu Trinh, Phan văn Trường, rồi ra hội nghị Versaille gì đấy.. Ông Hồ chí Minh hồi ấy đương có cái ảo tưởng là với cái chính trị mới, với cái tinh thần mới của quốc tế, có thể thoát ra một cách khác. Ông ấy không có cái chí như Gandhi bảo rằng là cứ hòa bình, kiên nhẫn, rồi cũng có lúc được độc lập. Nhưng thực ra, với Gandhi, với những ông ấy.. cũng may vì có chiến tranh thế giới cho nên các ông ấy mới được độc lập, không phải là tự các ông ấy mà gỡ ra được. Nói thực như thế.
Về ông Hồ chí Minh, lúc ở bên này ông ấy thấy rằng tất cả các nước trên thế giới không có thể dựa vào nước nào được hết cả mà có khí giới. Cái óc của ông ấy là óc khí giới. Từ năm 23, ông đã nghĩ đến. Lúc ấy chỉ có Ðảng Cộng sản, vì chính sách của họ, có thể giúp được khí giới. Cho nên ông ấy đi với tụi Nga hồi ấy.
... Dần dần ông ấy lập ra mấy đảng, trước là để quen với cách tổ chức. Rồi thì ông ấy lập ra Ðảng Cộng sản, cốt làm thế nào để bên Moscou, bên Stalin nó tin, nó mới cho tiền, nó mới cho súng ống. Cho nên ông ấy lập ra Ðảng Cộng sản Việt Nam. Cái óc nationalist (quốc gia) của ông ấy là mình thấy ở trong đấy rồi. Nhiều khi vô tình mà ông ấy lập ra Ðảng Cộng sản Việt Nam. Lập vào khoảng tháng 3 năm 1930 thì đến tháng 7, tháng 8 năm 1930, cái hạng thanh niên mà ông ấy gọi từ trong nước ra, rồi thì chuyển sang bên Moscou, học về marxiste. Ở bên này, hạng ấy được Stalin cho về Quảng Châu, lập một đảng khác là Ðảng Cộng sản Ðông Dương, chứ nó không cho từ Việt Nam nữa. Bởi vì Việt Nam là nationaliste, thì nó xóa và nó đẩy ông Hồ chí Minh ra ngoài.
... Ðược cái người Pháp khinh địch, khinh mình, cho nên không dè họ thua. Nhưng đến lúc Ðiện Biên Phủ, thì nói thực, lúc ấy không có súng ống tối tân không đời nào mà đánh được Pháp. Pháp lúc được Mỹ giúp ghê lắm rồi, về súng ống ghê rồi. Chỉ có bom nguyên tử họ không giúp, hay là 100 máy bay họ không giúp một lần, họ chỉ giúp lẻ tẻ thôi. Hồ chí Minh, lúc ấy tụi Tàu đặt vấn đề ra, nếu không theo nó, không nghe nó về mặt chính trị, nó không cho súng ống thì cũng chết. Cho nên nó đưa những tụi cải cách ruộng đất ở bên Tàu vừa xong, nó đưa sang, nó cầm "một vài ông gọi là Bộ trưởng lúc ấy " những người lúc ấy không phụ thuộc Hồ chí Minh. Sự cải cách gọi là địa phương nhưng mà lên đến huyện, lên đến tỉnh đã có người Tàu điều khiển cả rồi. Thành ông kia là phải nuốt chuyện ấy để mà nó giúp cho súng ống. Họ cũng biết là được Ðiện Biên Phủ thì mới có chuyện gì, chứ thua Ðiện Biên Phủ thì lúc ấy thua hoàn toàn."
Những nhận xét của học giả Hoàng xuân Hãn là những nhận xét chân tình, chí lý, đã nói lên cái thế cấn cái của Hồ chí Minh phải chấp nhận yêu sách của Tàu cộng nhằm tiến hành cải cách ruộng đất thì Tàu cộng mới giúp cho khí giới để đánh Pháp. Nhưng phải nói cuộc cải cách ruộng đất chính thức được phát động sau chiến thắng Ðiên Biên Phủ 1954, ( trước đó thì chỉ mới có chuyện giảm thuế, giảm tô lặt vặt thôi), nên khi ấy thì chuyện đánh Pháp xong rồi mà Hồ chí Minh, theo lời Học giả Hoàng xuân Hãn, vẫn phải chịu sức ép của Trung cộng định đoạt thì quả là một sự nhượng bộ quá đáng và khó hiểu, nếu không muốn nói là u mê, đần độn. Chỉ có thể giải thích là vì lòng yêu nhân dân không sâu sắc, coi mạng sống của dân không ra gì nên Hồ chí Minh mới chịu nhân nhượng trước áp lực của Trung cộng để rồi gây ra bao tội ác giết dân lành vô tội trong cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất.
Cần nói thêm ở đây là sau khi Học giả Hoàng xuân Hãn qua đời Hà Nội có làm một tuyển tập Hoàng xuân Hãn gồm 3 cuốn dày tổng cộng 3000 trang ghi lại tất cả những công trình văn hóa của cụ Hãn. Hai cán bộ văn hóa tên Hữu Ngọc và Nguyễn đức Hiền lãnh phần trách nhiệm sưu tập và biên soạn. Bài phỏng vấn của Thụy Khê nói trên với Hoàng xuân Hãn ở trên cũng được đưa vào sách. Có điều phải nói ở đây là có những đoạn trong bài phỏng vấn trích dẫn ở trên bị cắt đi nhiều phần vì " phạm húy " và không hợp với chính sách văn nghệ, văn hóa của nhà nước. Những lời phê phán của Hoàng xuân Hãn về Hồ chí Minh nói chung là nhẹ nhàng nhưng cũng bị coi là không chấp nhận được đối với đường lối chính trị của chế độ Cộng sản hiện nay nên đã bị đục bỏ thẳng tay khi đưa bài phỏng vấn này vào tuyển tập Hoàng xuân Hãn. Ðáng ghê tởm hơn nữa khi hai cán bộ văn hóa biên tập bộ Hoàng xuân Hãn còn phịa ra những lời mà cụ Hoàng xuân Hãn không hề nói với Thụy Khê. Trong cuốn sách " Nói chuyện với Hoàng xuân Hãn và Tạ trọng Hiệp" ( Nhà xuất bản Văn Nghệ, Hoa Kỳ), Thụy Khê đã tố cáo sự gian lận ma giáo của hai cán bộ Hữu Ngọc và Nguyễn đức Hiền trong chuyện tự động cắt những đoạn trong bài phỏng vấn và phịa thêm những đoạn mà cụ Hãn không hề nói trong bài phỏng vấn. Nói thế để thấy cái cung cách làm việc lưu manh và dối trá của các cán bộ văn hóa Hà nội. Làm công trình biên khảo cũng phải theo đúng chính sách văn hóa, văn nghệ do Ðảng đề ra và từ đó tự tiện cắt xén những điều mình không thích và thêm vào những điều có lợi cho nhà nước Cộng sản hiện nay. Trước đây Hà nội cho dịch cuốn sách " The bright shining lie" ( Sự lừa dối hào nhoáng ) của Neil Sheehan vì nội dung cuốn sách có lợi cho đường lối tuyên truyền của họ, nhưng có một đoạn văn nói về sự tàn bạo của Cộng sản trong tết Mậu Thân ở Huế thì các thợ dịch Hà Nội cũng đã đục bỏ một cách cố tình vì không có lợi cho chính sách tuyên truyền. ( Xin đọc bài " Hãy coi chừng thợ dịch Hà nội thiếu lương tâm" của Trần viết Ðại Hưng trong mạng www.nsvietnam.com). Hai cuốn hồi ký của Học giả Nguyễn hiến Lê và cựu tướng Ðỗ Mậu khi xuất bản ở Việt Nam cũng bị cắt xén những đoạn phê phán nhà nước. Xin đối chiếu với bản in ở hải ngoại với bản in ở quốc nội thì sẽ thấy rõ sự cắt xén thô bỉ như thế nào. Nói lên điều này để thấy cái cung cách làm việc " thiếu văn hóa " trong chuyện nghiên cứu văn hóa của các cán bộ Cộng sản Hà nội. Biết đến bao giờ họ mới có được lương tâm trong sáng của người cầm bút, chỉ biết tôn trọng sự thực và yêu quý lẽ phải mà người cầm bút chân chính nào cũng trân trọng và yêu quý.
Nói thế để nhắn nhủ người anh em thân cộng là nhà khoa học Trương Vũ đang tìm mọi cách bênh vực cho sự " trung thực " của hai cán bộ văn hóa Hoàng ngọc Hiến và Nguyễn huệ Chi trong vụ kiện WJC với ông Nguyễn hữu Luyện. Phải thấy rằng Hoàng ngọc Hiến , Nguyễn huệ Chi cũng có cách làm việc, nghiên cứu, biên tập cũng giống như Hữu Ngọc và Nguyễn đức Hiền mà thôi, nghĩa là nghiên cứu dưới ánh sáng của Ðảng, dưới ánh đèn dẫn đường của ý thức hệ Mác - Lê, cắt xén hay thêm thắt sao cho công trình văn hóa đúng lập trường, phải đạo. Nghiên cứu chệch hướng là coi như mang họa vào thân. Có chuyện kể rằng Hoàng ngọc Hiến vào tháng 6 năm 2004 vừa rồi có qua Ðức và có làm một cuộc phỏng vấn nhan đề " Cái nước mình nó thế " với trang mạng Talawas ( www.talawas.org). Nhưng trả lời vung vít xong rồi thì nhà nghiên cứu văn học Hoàng ngọc Hiến đâm ra phát rét, sợ về nước sẽ bị lâm vào tình cảnh " có vấn đề " với nhà nước nên yêu cầu báo điện tử Talawas đừng đăng phải phỏng vấn này. Làm công chuyện nghiên cứu văn hóa mà cứ nhát gan, sợ sệt như thỏ đế giống Hoàng ngọc Hiến thì không biết là ông nghiên cứu được gì ? Làm sao tiếp cận được chân lý của vấn đề khi mang trong đầu một nỗi sợ hãi không dám cho công bố bài phỏng vấn mình như thế ? Chỉ có người anh em thân cộng Trương Vũ ngây thơ đang rán sức phồng mang trợn má để bênh vực cho chuyện nghiên cứu văn hóa của Nguyễn huệ Chi và Hoàng ngọc Hiến tại WJC. Ở quận Cam ( Orange county, California) trước đây vài năm có cả hàng chục ngàn đồng bào tỵ nạn xuống đường để phản đối tên thân cộng Trần Trường treo hình Hồ chí Minh và lá cờ máu thì chuyện ấy Hoàng ngọc Hiến và Nguyễn huệ Chi có dám đề cập đến trong khi nghiên cứu về người tỵ nạn không nhỉ ? Chắc chắn là không và lý do tại sao thì ai cũng có thể hiểu, ngoại trừ nhà khoa học thân cộng Trương Vũ !
Khi nói đến nỗi đau thứ bảy trong mười nỗi đau của Hồ chí Minh trong bài viết, Hoàng Tùng cho biết đã có sự bất hòa trong hàng ngũ lãnh đạo. Hoàng Tùng kể Hồ chí Minh sai Hoàng Tùng viết bài " Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân " để nhắn nhủ những đồng chí bất hòa hãy rán mà làm lành thân thiện với nhau. Rồi đến chuyện Hồ chí Minh cho làm cơm cuối tuần để mời những người xung khắc lại dùng cơm để mong hóa giải sự xung khắc và trong di chúc để lại Hồ chí Minh kêu gọi sự đoàn kết toàn Ðảng, từ Trung ương đến địa phương cũng là vì đã nhìn thấy chuyện " cơm không lành, canh không ngọt " giữa những đồng chí với nhau trong Ðảng.
Thật ra chuyện mâu thuẫn và đấu đá giữa những phe phái trong Ðảng trầm trọng hơn Hoàng Tùng trình bày trong bài viết trên nhiều. Hoàng văn Hoan, nguyên phó chủ tịch quốc hội, có xuất bản cuốn hồi ký " Giọt nước trong biển cả " sau khi trốn qua Bắc Kinh, đã cho biết chính phe Lê Duẩn đã giết Ðại tướng Nguyễn chí Thanh khi tướng Thanh từ chiến trường miền Nam ra Hà nội họp. Sách báo Cộng sản đưa tin là tướng Thanh bị bệnh nhồi máu cơ tim đột ngột nên qua đời. Cái chết đột ngột của hai đại tướng Hoàng văn Thái và Lê trọng Tấn trước đây chắc chắn không phải vì bệnh tật mà do phe phái trong Ðảng đấu đá, thanh toán nhau dù cho tới ngày nay cũng chưa biết đích xác thủ phạm là ai. Bản thân Hoàng văn Hoan cũng bị phe Lê Duẩn - Lê đức Thọ trù dập đến nỗi phải trốn qua Bắc kinh khi trên đường đi Ðông Ðức trị bệnh. Cựu đại tá Bùi Tín sau khi đi lưu vong đã viết hồi ký kể chuyện phe Lê Duẩn và Lê đức Thọ trù dập và bôi bẩn Ðại tướng Võ nguyên Giáp tàn tệ như thế nào, trong đó có chuyện ban cho người anh hùng Ðiện Biên Phủ chức " cai đẻ" để làm nhục người hùng này. Biết mình thế cô sức yếu, Võ nguyên Giáp ngoan ngoãn để cho phe Duẩn Thọ làm nhục với mục đích mua lấy sự sống. Xem ra cái hèn để người khác làm nhục nhân cách mình của Ðại tướng miền Bắc Võ nguyên Giáp cũng ngang ngửa với cái hèn đầu hàng của Ðại tướng miền Nam Dương văn Minh. Xem thế mới thấy không phải đeo lon đại tướng là con người trở nên hùng dũng, trái lại nhiều khi còn hèn thua một người dân thường. Nói chung cung cách xử sự của hai viên đại tướng họ Võ và họ Dương trước tình thế nguy hiểm là hèn hạ, nhục nhã vì vì lối sống " tham sống sợ chết ", sẵn sàng làm tất cả những điều nhục nhã, hèn hạ để mua lấy sự sống. Ôi ! sống nhục sao bằng thác vinh ! Người xưa đã dạy như thế nhưng mấy ai làm được.
Phe Trường Chinh và Lê đức Thọ cũng tranh giành quyền lực quyết liệt sau khi Lê Duẩn qua đời. Tới ngày hôm nay thì phe của Ðại tướng chột mắt Lê đức Anh ( đàn em trung tín của Lê Duẩn ố Lê đức Thọ ) đang đấu đá quyết liệt với phe của Ðại tướng cai đẻ Võ nguyên Giáp. Ðây là một vụ án siêu nghiêm trọng có thể đưa đến sự hủy thể của Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Hồ chí Minh kêu gọi sự đoàn kết yêu thương giữa những đồng chí trong đảng với nhau nhưng chủ thuyết Mác - Lê mà Hồ chí Minh theo đuổi lại là chủ thuyết dựa trên sự đấu tranh giai cấp, dựa trên sự thù hận nên chuyện đấu đá tranh giành nhau đã không thể tránh được. Hãy nhìn vị vạn thế sư biểu Khổng tử với 3000 đệ tử thấm thuần trong học thuyết nhân bản Khổng giáo, kêu gọi con người xử sự với nhau trên những nguyên tắc đạo đức " nhân, nghĩa, lễ, trí, tín " nên 3000 học trò của Khổng tử đều đối đãi, cư xử với nhau trong sự yêu thương như anh em ruột, chứ không hãm hại giết nhau như những đệ tử đàn em của Hồ chí Minh. Chủ thuyết như thế nào thì tín đồ phải như thế ấy thôi. Chuyện Hồ chí Minh cổ súy và xây dựng chế độ mình trên chủ thuyết Mác- Lê độc ác, phi lý vô cùng tận để rồi ước mong đàn em đệ tử của mình phải yêu thương, quý mến nhau quả là điều không tưởng. Hoàng Tùng cho biết Hồ chí Minh rất buồn vì chuyện bất hòa giữa những đàn em nhưng mà " nhân nào thì sinh quả nấy ", làm sao có chuyện đầm ấm yêu thương trong khi sống trong một chủ thuyết cổ súy hận thù như chủ nghĩa Mác- Lê.
Nỗi đau thứ tám của Hồ chí Minh được Hoàng Tùng trình bày là Hồ chí Minh thật sự không muốn chiến tranh với Pháp cũng như với Mỹ. Nhiều học giả ngoại quốc khi nghiên cứu về Hồ chí Minh cũng đều đưa ra kết luận trên. Ðây là một điều khó hiểu vì Hồ chí Minh thường được biết đến một con người độc đoán, sắt đá nhưng lại là người chọn đường lối hòa hoãn, thương lượng để chấm dứt chiến tranh chứ không muốn đối đầu, đánh đấm để đạt mục tiêu. Quyết định đánh chiếm miền Nam là của phe chủ chiến Lê Duẩn và Lê đức Thọ và hai ông nay đã khống chế được phe Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp để tiến hành chuyện chiến tranh ở miền Nam. Phe Lê Duẩn - Lê đức Thọ ganh tức cái hào quang mà Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp có được trước nhân dân và thế giới từ chiến thắng Ðiện Biên Phủ nên quyết đánh miền Nam để tạo một chiến công lừng lẫy, vang dội hầu lấn át danh tiếng của Hồ và Giáp. Ðộng lực của phe chủ chiến Duẩn-Thọ có nguyên nhân sâu xa là như thế.
Bài viết của Hoàng Tùng muốn kể ra 10 nỗi đau của Hồ nhưng người ta chỉ đọc được 8 nỗi đau. Lý do là bài viết được trích từ cuốn sách " Những kỷ niệm về Bác Hồ " của Hoàng Tùng bị tịch thu sau khi cuốn sách ra đời, nên khi bài viết đi ra hải ngoại thì chỉ tìm thấy 8 nỗi đau thay vì 10 nỗi đau vì tài liệu bị thất lạc, tứ tán. Có thể góp ý thêm một nỗi đau của Hồ là không được bọn đàn em như Duẩn, Thọ, Hoàng quốc Việt cho cưới vợ để họ có thể biến Hồ thành một biểu tượng có lợi cho công cuộc giải phóng miền Nam. Ðiều này khá mỉa mai vì Lê đức Thọ có 2 vợ, Lê Duẩn có 3 vợ mà lại không cho phép Hồ lấy vợ ! ( Xin vào mạng lưới www.quehuongmedia.com đến phần Tài liệu để đọc thêm về cái chết thảm khốc của cô Nông thị Xuân, người đã sinh cho Hồ một đứa con trai tên Nguyễn tất Trung. Sau khi cô Xuân bị giết chết, cậu Trung được giao cho gia đình tướng Chu văn Tấn nuôi và sau này lại đưa cho người hầu cận thân tín của Hồ là Vũ Kỳ nuôi. Cậu Trung được đổi tên là Vũ Trung và cho đến giờ phút này không biết cậu còn sống hay đã bị thủ tiêu như mẹ cậu để bảo vệ uy tín cho người cha khốn nạn Hồ chí Minh.)
Thêm một nỗi đau nữa của Hồ là bị phe Duẩn Thọ cô lập và giết dần mòn vì chuyện Hồ tìm cách liên lạc với ông Diệm hồi năm 1963. Một con người tinh ma, quỷ quái như Hồ mà rồi cũng không qua được định luật nhân quả của trời đất. Ông phải trả quả cho những hành động tàn ác mà ông gây ra trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị.
Mới đây Cộng sản Việt Nam đã đưa ra quyết định coi " tin, tài liệu liên quan đến vấn đề lịch sử Ðảng Cộng sản Việt Nam, thân thế sự nghiệp các vị lãnh đạo chưa công bố hoặc không công bố đều thuộc danh mục bí mật nhà nước". Cuốn sách của Hoàng Tùng nói trên bị tịch thu vì tiết lộ những bí mật cần phải dấu của Hồ chí Minh.
Năm ngoái, chế độ Hà nội xin phép sử gia Duiker để phiên dịch cuốn tiểu sử Hồ chí Minh in ở Mỹ, nhưng xin ông Duiker bỏ bớt phần nói về chuyện ông Hồ có vợ ở Trung Quốc trước khi về Việt Nam hoạt động. Sử gia Duiker đã từ chối đề nghị cắt xén này nên Hà nội im lặng, không nói đến chuyện phiên dịch cuốn tiểu sử Hồ chí Minh này nữa. ( Xin đọc bài " Góp ý với sử gia Duiker " của Trần viết Ðại Hưng trong trang mạng www.nsvietnam.com). Chuyện Hồ có vợ ở Trung quốc hay ăn ở với bà Nguyễn thị Minh Khai ( vợ chính thức của Lê hồng Phong, một đồng chí của Hồ ) còn nằm trong các tài liệu ở thư khố Nga và Trung cộng đã được giải mật và cung cấp tài liệu cho những nhà nghiên cứu sử khai thác. Chuyện một người đàn ông như ông Hồ thì chuyện có vợ là một chuyện hết sức bình thường, đâu có gì xấu xa mà phải che giấu, tránh né. Nhưng mấy mười năm nay sách báo Cộng sản đã biến ông Hồ thành một ông thánh không gần đàn bà nên giờ đây họ không đủ can đảm để chấp nhận những sự thật phũ phàng về đời tư, tình cảm của ông Hồ. Không biết họ còn bưng bít và nói dối về ông Hồ cho tới bao giờ ? Ngày xưa nói đến tên vua là phạm húy, ngày nay nói đến ông Hồ thì chỉ có quyền nói đến những chuyện tốt đẹp về ông còn nói đến chuyện tình ái lăng nhăng, con rơi con rớt của ông cũng là một chuyện " phạm húy " cấm kỵ. Hà sĩ Phu đã từng đánh giá chế độ Cộng sản ở Việt Nam là một thứ chế độ phong kiến trá hình quả thật là quá đúng.
Thật ra dù là một đảng viên cao cấp nắm ngành tuyên huấn, báo chí như Hoàng Tùng cũng chỉ biết được những bí mật sơ sài về Hồ chí Minh mà thôi. Phải nói người nắm giữ những bí mật chính trị của Hồ chí Minh là Võ nguyên Giáp và người hiểu rõ những chuyện thầm kín của Hồ chí Minh là người thư ký hầu cận Vũ Kỳ. Ông Giáp và ông Kỳ đều còn sống, nhưng với chính sách bưng bít thông tin, cấm nói đến những điều tiêu cực của lãnh tụ của nhà nước Cộng sản thì hai ông Giáp và Kỳ cũng không thể nói được gì thêm về Hồ chí Minh. Trước đây ông Vũ Kỳ có lên tiếng thêm về chuyện di chúc Hồ chí Minh với Bùi Tín liền bị mấy ông lớn trong bộ chính trị kêu lên đe nẹt và hù dọa ngay. Cầu mong chế độ Cộng sản sẽ sụp đổ trước khi ông Giáp và ông Kỳ qua đời thì hai ông này sẽ có cơ hội tiết lộ nhiều bí mật sâu kín về chính trị và tình cảm của Hồ chí Minh.
Chuyện đánh giá công tội của Hồ chí Minh đối với đất nước là chuyện dài lâu nhưng bản thân Hồ chí Minh, trong di chúc viết ngày 14 tháng 8 năm 1969, tỏ ý mong mỏi lịch sử sau này xét kỹ cho ông mà đừng lên án ông quá nặng nề. Ông đã kết thúc bản di chúc bằng hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ lòng hối hận trước cao xanh về những tội lỗi của ông:
Rằng con biết tội đã nhiều
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam.
Phải thấy rằng đây không phải là đòn bịp cuối cùng trong đời của Hồ chí Minh mà là những lời nói thống thiết chân thành pha lẫn sự đau đớn của một con người trước giờ hấp hối lâm chung. Ước mong sao toàn dân Việt Nam rồi sẽ có cơ hội nhìn thấy và thông cảm với sự bộc bạch chân thành, những lời nói phải của một con người trước khi chết, giống như con chim trước khi chết thì tiếng kêu thương. Bài viết Hoàng Tùng đã hé mở phần nào những nỗi đau của Hồ chí Minh mà chế độ vì muốn thần thánh hóa ông nên cố tình bưng bít, dấu diếm. Nhưng rồi trời đất luôn có luật công bằng và dần dần những tâm tư sâu kín của Hồ chí Minh cũng được bộc lộ bởi những người cộng sự viên chung quanh như Hoàng Tùng và sau này còn nhiều người quen biết khác nữa để người ta có thể nhìn thấy cái tâm tư u uẩn, đau xót của ông.
Ở thế giới bên kia chắc Hồ chí Minh cũng được thỏa lòng vì giờ này đã được người đời hiểu thấu tâm can thống thiết của ông.
Lawndale, một sáng mùa thu mát lạnh có nhiều sương mù bay lãng đãng đầu tháng 9 năm 2004TRẦN VIẾT ÐẠI HƯNG
(*) Ông Loseby là người luật sư phụ trách cải cho Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông lúc Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh bị bắt tại Hồng Kông năm 1931.
(Theo Web Con Ong)

 


Tìm Hiểu Sự Thật Trong Bài "Huyền Thoại
Hồ Chí Minh" của Lữ Phương

Trần Viết Ðại Hưng
 

Lữ Phương là một trí thức miền Nam, đã tốt nghiệp Đại học sư phạm trước năm 1975. Năm Mậu Thân 1968, Lữ Phương vào bưng theo Việt Cộng. Cùng vào bưng trong dịp này có thêm những trí thức miền Nam nổi tiếng như Bác sĩ Dương quỳnh Hoa, nhà biên soạn tự điển Thanh Nghị Hoàng trọng Quy v..v. Lữ Phương được cấp chức Thứ trưởng trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Nguyễn hữu Thọ trong thời gian hoạt động với Việt Cộng (1968-1975). Sau 1975, ông bị thất sủng, không được giao chức vụ gì và trở thành người nghiên cứu chủ nghĩa Mác và thỉnh thoảng có trả lời phỏng vấn với phóng viên Đinh quang Anh Thái ở hải ngoại. Năm 2002, ông cho xuất bản cuốn sách "Từ Nguyễn ái Quốc đến Hồ chí Minh ". Lữ Phương hiện nay sống ở Sài gòn.

HUYỀN THOẠI HỒ CHÍ MINH

Hồ chí Minh là một nhân vật quan trọng trong phong trào Cộng sản quốc tế và giải phóng dân tộc thuộc thế kỷ 20. Ông đã lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức cuộc chiến đấu bền bỉ chống lại các thế lực thực dân hiện đại, đã hoàn thành độc lập thống nhất, tạo cơ sở quyền lực để thiết lập chế độ gọi là " chủ nghĩa xã hội hiện thực " ở Việt Nam. Đã có khá nhiều ý kiến nhận định, đánh giá sự nghiệp của ông theo nhiều quan điểm khác nhau trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam, trong chế độ Cộng sản, từ một nhân vật lịch sử ông đã trở thành một nhân vật huyền thoại có tác dụng huyễn hoặc rất đặc biệt.
Theo những người nghiên cứu về Việt Nam, hiện tượng này có ba nguồn gốc : 1) Tự ông cố ý tạo ra để lôi kéo quần chúng 2) Đảng Cộng sản đã dày công làm cho ông thành một biểu tượng thờ phụng của chế độ 3) Người Việt Nam hy vọng vào ông như một người cứu độ, giúp họ thực hiện được những mong mỏi nghìn đời của đất nước và bản thân.
Nếu huyền thoại Hồ chí Minh đã cho Đảng Cộng sản uy tín hầu như quyết định để chiến thắng trong chiến tranh, thì do những thất bại của Đảng Cộng sản trong xây dựng hòa bình mà huyền thoại Hồ chí Minh từ từ rạn vỡ trong nhân dân và cả trong Đảng. Một cái nhìn công bằng là một cái nhìn hiện thực về nhân vật lịch sử này.

VẼ RỒNG THẤY ĐẦU KHÔNG THẤY ĐUÔI

Do phải giữ kín tung tích trong hoạt động bí mật, lý lịch của Hồ chí Minh cũng là một bí mật. Sau cách mạng 1945, nhiều người còn chưa biết ông là ai. Nhiều đoạn đời của ông có một thời bị nhiều nhà viết tiểu sử ông để trống ( như sau vụ thất bại của Xô viết Nghệ tĩnh năm 1931, ông đi đâu không biết cho đến năm 1941 mới xuất hiện lại và về nước ). Phần ông, ông lại không chịu viết hồi ký hoặc chính thức công bố đầy đủ lý lịch của mình. Nếu có viết thì ông lại không ký tên thật. Với bút danh Trần dân Tiên trong " Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch ", hình ảnh mà ông tự giới thiệu chỉ là một người cách mạng rày đây mai đó, không có cuộc sống riêng tư. Nhưng đó cũng chính là ý muốn của ông. Trong cuốn sách nhỏ này ông có khen ngợi tài của người họa sĩ Trung hoa vẽ rồng và cho rằng vẽ rồng giỏi là chỉ cho người xem trông thấy đầu còn đuôi thì dùng những cụm mây che khuất đi. Thủ thuật ấy rõ ràng ông đã sử dụng để tự họa. Cái cốt cách thanh thoát mờ ảo ấy thật ra cũng đã toát ra từ chính con người của ông : với khuôn mặt xương xương, dáng người gầy, mới 50 tuổi đã để râu dài, ông có vẻ xuất thế hơn rất nhiều so với một số lãnh tụ châu Á khác - như Mao trạch Đông chẳng hạn.
Hình ảnh xuất hiện chính thức của ông trước công chúng do vậy ngoài một lãnh tụ Cộng sản tầm cỡ quốc tế tài ba, còn là một hiền triết phương Đông. Nhưng đối với ông, không phải chỉ có như vậy. Trong thời chống Pháp, có một dạo, mấy chữ " cha già dân tộc " đã được bộ máy tuyên truyền Việt Minh dùng để tôn vinh ông khá ồn ào ( như một câu hát : " Thi đua thi đua cha già nhắn tin về .." Thật sự thì hình ảnh này đã được chính ông sử dụng để tự đề cao trong cuốn sách " Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch " do chính ông viết " Nhân dân gọi Chủ tịch là Cha già của dân tộc, vì Hồ chủ tịch là người con trung thành nhất của Tổ quốc Việt Nam "). Về sau có lẽ vì thấy hơi quá lố, hình ảnh ấy không còn được nhắc lại, mấy chữ " Bác Hồ " được thay vào và giữ mãi cho đến khi ông mất.
Trong tiếng Việt, chữ " bác " chỉ vai người anh của cha, dùng để xưng với các cháu thiếu nhi thì thích hợp. Nhưng sau này, nó lại trở thành phổ biến để mọi người gọi theo. Theo nhiều người gần gũi ông cho biết thì điều đó cũng do ông chỉ đạo : ai mới gặp ông mà gọi ông bằng " anh" hoặc " đồng chí " thì bị ông chỉnh ngay (tôi nghe nói trong những người bị ông chỉnh có Trần văn Giàu và nhà văn Nguyễn huy Tưởng).
Cung cách ứng xử của ông thường được coi như tấm gương để toàn Đảng, toàn dân học tập, trong đó tác phong giản dị, cần kiệm, thân dân (lo chuyện tương cà mắm muối cho dân ) thường được đề cao nhiều nhất. Năm 1968, sau khi vào chiến khu, suốt 7 năm ở R, năm nào đến 19 tháng 5( người ta cho là sinh nhật của ông), trong các buổi lễ kỷ niệm tôi đều được nghe không biết bao nhiêu lần những câu chuyện như vậy.
_ Chuyện đôi giép râu. Bác Hồ đi giép râu thì ai cũng biết. Bác đi một đôi giép đến mòn lẳn. Cậu bảo vệ đề nghị Bác thay nhiều lần nhưng Bác nhất định không chịu. Cuối cùng nài nỉ mãi không được, cậu đã phải lén lấy đôi giép ấy đi đổi. Khi phát hiện, Bác không vừa lòng và nhất quyết bắt cậu bảo vệ đi lấy lại đôi giép cũ.
_ Chuyện lá giong gói bánh chưng của dân Hà nội. Mửi năm khi gần tết, mặc dầu " bận trăm công ngàn việc ", Bác vẫn điện thoại hỏi đồng chí Trần duy Hưng, bấy giờ là bí thư thành ủy Hà nội, xem có lo đủ lá giong để gói bánh chưng cho dân chưa.
Còn nhiều chuyện khác có nội dung tủn mủn, lẩm cẩm và " bao cấp " như vậy. Chưa kể đến những bài nhạc, bài thơ - nơi không cần phải mô tả những chi tiết - người ta đã tha hồ dùng sự bay bổng của phạm trù mỹ học gọi là sự cao quý để đưa ông lên chín tầng mây ! Từ một người anh hùng giải phóng dân tộc, ông trở thành một ông tiên trong các truyện thiếu nhi, một nguồn cảm hứng vô tận để hình thành những bài tụng ca, và hơn nữa, còn là hình tượng của người đi cứu độ chúng sinh nữa. Sau 1975, tôi thấy người ta đã dựng bàn thờ ông ngay giữa bùng binh Sài gòn, khói hương nghi ngút. Ngày nay nhiều nơi vẫn còn giữ thói quen này, không phải chỉ với riêng ông ( nhiều liệt sĩ Cộng sản đã thành thần trong các miễu, các đền ).

CUỘC SỐNG RIÊNG TƯ

Chuyện tình ái, vợ con của ông là điều được dư luận quan tâm, nhưng sách báo của Đảng thường né tránh. Cả một đời vì nước vì non thì màng chi đến những hệ lụy nhân gian ấy ! Nhưng điều này hoàn toàn không đúng ngay cả đối với ông: có lần ông đã cho rằng sai lầm lớn nhất đời ông là không lấy vợ ! Nói chơi thôi nhưng thật sự trong thực tế, đã có nhiều chuyện kể cho biết ông có rất nhiều nhân tình ở khắp nơi, từ Pháp, Nga, Trung quốc..
Kim Hạnh lúc làm Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, vì đăng ở trang nhất tin nói về bài thơ của ông ( bí danh Lý Thụy khi từ Liên xô ông sang Trung quốc khoảng 1925) gửi người vợ Tàu mà bị cách chức và đuổi khỏi làng báo. Một nhà nghiên cứu Mỹ, khi truy tầm hồ sơ mật của Đệ tam quốc tế lưu trữ tại Moscou sau khi Liên xô sụp đổ, đã tìm thấy tài liệu cho biết khi đi dự một Đại Hội Quốc Tế Cộng sản ở Nga, ông đã khai có vợ và người ấy chính là đồng chí Nguyễn thị Minh Khai chứ không phải ai khác !
Trong nước chuyện tình của ông nhiều hơn và cũng nhiều tính chất bi thảm hơn. Dư luận Hà nội râm ran từ lâu chuyện ông ăn ở với một cô tên Xuân, cô này do mật vụ Trần quốc Hoàn đưa về để phục vụ ông nhưng sau cho người giết đi để bịt tung tích, có đứa con trai được Vũ Kỳ, thư ký riêng của ông cứu thoát, đem về nuôi. Gần đây nhân Đại hội 9 của Đảng ( tháng 4 năm 2001), các hãng thông tấn phương Tây đã nói đến khá nhiều chuyện năm 1941, khi về nước, ông đã quan hệ với một nữ cần vụ người dân tộc và sinh ra Nông đức Mạnh, nay mới được bầu làm Tổng bí thư Đảng.
Những chuyện tình nói trên, hư thực ra sao chưa được chứng minh thật thuyết phục, nhưng xét về mặt đạo đức cá nhân thật ra chẳng có gì quan trọng lắm : các lãnh tụ Cộng sản cũng là những con người, vợ con này nọ đủ cả, một số lại rất hoang toàng trong cái khoản mục này ! Giả sử Hồ chí Minh có như vậy đi nữa thì công lao chống thực dân của ông chẳng hề bị suy suyển. Nhưng do Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ muốn dừng lại với cái công lao ấy mà còn vượt lên thời gian tồn tại muôn năm, nên hình ảnh của Hồ chí Minh phải được tô vẽ sao cho thật lý tưởng, thật phi thường.
Và đó cũng chính là chính sách tạo thần tượng của guồng máy. Người ta có thể vẫn sống một cuộc sống bình thường, nhưng khi Đảng cần thì cái bình thường sẽ được thay vào bằng những việc làm, những sự tích thần thánh. Anh là người có tính Đảng cao thì anh phải biết tuân phục: cứ việc sống bình thường nhưng phải biết cố gắng đóng cho tròn cái vở kịch được tạo ra cho mình. Chỉ vì lợi ích cách mạng thôi. Càng có nhiều tấm gương phi thường để những người bình thường noi gương hy sinh thì sự nghiệp của Đảng mới huy hoàng: cờ Đảng chẳng đỏ rực màu máu hay sao? Chính vì đã dựa trên cái lý lẽ về chủ nghĩa anh hùng cách mạng đó mà Đảng đã tạo ra khá nhiều những truyền thuyết trong tất cả mọi lãnh vực từ bộ đội, tình báo đến nhà báo, nhà sư.. Hồ chí Minh cũng chỉ là một huyền thoại trong những huyền thoại do Đảng tạo ra, nhưng là huyền thoại của những huyền thoại cho nên phương pháp tạo dựng cũng phải hết sức đặc biệt.
Không biết có khi nào suy ngẫm lại những cái đã qua, ông cảm thấy những bất ổn trong những vở kịch do mình tạo ra hay không, nhưng từ bên ngoài, nhiều người đã thấy khá nhiều những bực bội, buồn phiền gây ra cho ông bởi chính cái đám âm binh cách mạng của ông. Có nhiều chuyện không vui vẻ lắm, nhưng chuyện ông bị cho ra rìa suốt trong quãng đời còn lại trước khi ông mất là đáng chú ý nhất. Sau cải cách ruộng đất năm 1956 ở miền Bắc, do nhập từ Trung quốc, quá thất đức và sai lầm, ông đưa Võ nguyên Giáp, uy tín như cồn sau Điện Biên Phủ , ra thay mặt Đảng xin lửi nhân dân, sau đó định sẽ lên thế chử Trường Chinh làm Tổng bí thư. Lúc bấy giờ ở Liên xô, Krushchev đang thắng thế với đường lối hòa bình, trong Đảng Việt Nam cũng có xu hướng ấy. Nhưng tình hình Việt Nam lại không thuận lợi để phát triển. Do cường độ cuộc chiến tranh ở miền Nam đã lên cao, đường lối quyết liệt dùng bạo lực để giải quyết chiến tranh thắng thế đã đưa cánh Lê Duẩn / Lê đức Thọ lên nắm quyền.
Về Võ nguyên Giáp thì kết quả ai cũng nhìn thấy: bị quy là kẻ cầm đầu chủ nghĩa xét lại và bị trù dập suốt một thời gian dài, đến khi Lê Duẩn chết mới thôi. Còn về Hồ chí Minh thì dường như chẳng có gì, nhưng thật sự cũng đã chịu số phận chung với tướng Giáp. Bên ngoài thì vẫn đi đây đi đó, chỉ đạo việc này việc kia..nhưng bên trong đã dần dà bị cô lập, chỉ giữ vai trò của một ngọn cờ tượng trưng, không có ảnh hưởng gì lắm tới những quyết định lớn. Theo một bài viết của Vũ Kỳ ( đăng trên một số báo Văn Nghệ Xuân cách đây vài năm ), công lao của Hồ chí Minh trong cuộc " Tổng tấn công và nổi dậy " 1968, vỏn vẹn chỉ có bài thơ " Xuân này hơn hẳn mấy năm qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà.." Sau khi ghi âm bài thơ này thì ông được đưa đi..nghỉ. Vũ Kỳ thuật rằng ông Hồ chỉ biết ngày giờ cuộc " Tổng tấn công và nổi dậy " nổ ra qua Đài phát thanh nghe được ở nơi ông được gửi đi nghỉ là Bắc Kinh - cùng với giọng đọc của ông, ra rả suốt ngày về bài văn vần nói trên. Nhiều người đã nói đến nhiều khuynh hướng đối nghịch nhau trong Đảng Cộng sản Việt Nam thời chiến tranh; nhưng qua câu chuyện trên, ta thấy có hai xu hướng chính trong suốt một thời gian dài : Lê Duẩn/ Lê đức Thọ đối đầu với Hồ chí Minh/Võ nguyên Giáp.
Dù sao chế độ vẫn cần sự thiêng liêng của ông để tạo ra sự thiêng liêng cho chính mình nên cái chết của ông cũng đã được cánh Lê Duẩn / Lê đức Thọ khi thác triệt để để " xài " một cách thoải mái. Ngày chết của ông là 2/9 vì trùng với ngày quốc khánh nên người ta dời lại ngày 3/9/1969. Trong di chúc cuối cùng, ông muốn được hỏa táng và đem tro rải xuống biển hoặc chôn vào một vùng đất nào đó, người ta lại bỏ không biết bao nhiêu tiền bạc ra ướp xác và xây lăng nghìn đời cho ông.

NHỮNG LỰA CHỌN CHÍNH TRỊ

Con người của Hồ chí Minh được thần thánh hóa chỉ nhằm mục đích thần thánh hóa những lựa chọn chính trị của ông cho Đảng Cộng sản. Những chủ đề sau đây đã trở thành kinh điển trong các khóa giảng dạy về tư tưởng của chế độ : Từ thuở ấu thơ, Hồ chí Minh đã ưu tư về tình trạng nô lệ của dân tộc, vì thế đã quyết định bỏ xứ ra đi tìm đường cứu nước; chu du khắp thế giới để tìm hiểu và so sánh, cuối cùng ông đã nhận ra chủ nghĩa Mác - Lênin thần kỳ, không những giúp dân tộc giành được độc lập mà còn mở đường đi vào cõi hạnh phúc muôn đời. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất thực hiện được cái tất yếu ấy của lịch sử cho nên quyền lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc sẽ là vĩnh viễn và tuyệt đối.
Qua sự kiểm nghiệm của lịch sử hơn nửa thế kỷ đã qua, người ta thấy những xác tín trên đây nếu đúng một phần nhỏ thì sự cường điệu và phóng đại lại là quá nhiều.
Thí dụ như việc tìm đường cứu nước. Có lẽ không cần tranh luận về cái giả định khởi đầu này: Hồ chí Minh là một trong rất nhiều những thanh niên yêu nước lúc bấy giờ. Nhưng từ đó cho rằng vì yêu nước mà ngay từ đầu đã có ý định phải ra nước ngoài để tìm giải pháp cứu nước thì điều này không nhất định phải là tất yếu. Một người Pháp nghiên cứu về Việt Nam là D.Hémery có tìm ra được một tờ đơn của Hồ chí Minh đề ngày 15-9-1911 ở Marseille - ký là Paul Tất Thành - gửi chính phủ Pháp xin vào học trường Ecole coloniale ( một loại trường tạo công chức cho các thuộc địa ) và đã bị từ chối. Nhà sử học này cũng tìm ra một số thư của ông - cũng ký là Paul Tất Thành - nhiều lần gửi về nước nhờ Khâm sứ Trung kỳ hỏi thăm tin tức và chuyển tiền cho cha. Từ những tài liệu này - Biên niên tiểu sử Hồ chí Minh ( Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1993) có ghi lại phát hiện của Hémery - người ta có thể bàn luận nhiều chuyện, nhưng để đừng đi quá xa chúng ta chỉ cần ghi nhận điều hiển nhiên sau đây : YÙ định " cứu nước " của Hồ chí Minh chưa chắc đã có ngay từ lúc bỏ nước ra đi, ý định ấy có thể đã đến sau những dự tính khác không thành ( thí dụ không được chấp nhận vào học tại Ecole coloniale ). Giả thiết này chẳng hề hạ thấp tình cảm yêu nước của ông, nhưng tất nhiên, như vậy thì sẽ rất khó để tạo ra cái chủ ý lý tưởng hóa cuộc đời ông từ nhỏ cho đến lớn. Làm sao có thể cho là " lý tưởng " cái hiện tượng Hồ chí Minh tự gọi mình là " Paul Tất Thành ", xin đi học làm công chức cho chính quyền thực dân đồng thời nhờ cả chính quyền thực dân ấy chuyển tiền từ nước ngoài về cho cha !
Cái lập luận cho rằng sau khi đã bôn ba khắp nơi để nghiên cứu tìm hiểu, từ đó thấy chủ nghĩa Mác -Lênin tuyệt vời nên Hồ chí Minh mới chọn - lập luận này cũng tỏ ra rất khó thuyết phục. Việc ông đi đây đó trên thế giới không đủ để chứng minh được rằng ông đã thâu đạt được tất cả những tinh hoa của nhân loại như đã được những người xưng tụng ông giả định. Khác với nhiều lãnh tụ châu Á khác, chẳng hạn như Tôn dật Tiên, Gandhi, ông không hề có ý định đào sâu kiến thức của mình qua các trường Đại học. Thời gian ông trở lại nước Pháp hơi lâu (1917-1923), nhưng công việc của ông ở đây vẫn đi theo cái chiều hướng nghiêng về phần thực hành, quan hệ tiếp xúc, viết báo, vận động.. Các sách ông đọc ở đây chỉ là những loại phổ thông, không có gì chứng tỏ được chiều sâu cần thiết về tư duy để nghiêm chỉnh tiếp thu chủ nghĩa Mác. Tôi đã viết ra nhiều lần nhận xét này, nay không sợ lặp lại để nói thêm một lần nữa.
Những nhà ý thức hệ Cộng sản có thể rất tức giận vì nhận xét ấy, nhưng tiếc thay, điều đó lại được chính Hồ chí Minh nói ra. Ai đã đọc cuốn sách mang tên " Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch " do chính ông viết ( dưới bút danh Trần dân Tiên) thì sẽ thấy ngay. Xin dẫn một vài đoạn ông kể về Đại hội Tours cuối năm 1920 của Đảng Xã hội Pháp :
" Người ta thảo luận rất sôi nổi ( ..) .Ông Nguyễn lắng nghe nhưng không hiểu rõ lắm, vì người ta thường nhắc đi nhắc lại những tiếng, những câu : Chủ nghĩa tư bản, giai cấp vô sản, bóc lột, chủ nghĩa xã hội, cách mạng, không tưởng, khoa học, Saint-Simon, Fourrier, Marx, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa cải lương, sản xuất, luận đề ..giải phóng...chủ nghĩa tập thể..chủ nghĩa Cộng sản, khách quan, chủ quan..v..v"
Không hiểu rõ lắm, nhưng đến lúc biểu quyết, gia nhập Đệ tam hoặc ở lại Đệ nhị Quốc tế thì ông vẫn bỏ phiếu cho Đệ tam Quốc tế .
" Rất ngạc nhiên, Rô-dơ, làm tốc ký của Đại hội, hỏi ông Nguyễn:
" Đồng chí ! Bây giờ đồng chí hiểu tại sao ở Pa-ri, chúng tôi đã bàn cãi nhiều như thế rồi chứ ?"
_ Không, chưa thật hiểu đâu
_ Thế thì sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Đệ tam quốc tế ?
_ Rất đơn giản. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều là Đệ tam Quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Đệ tam Quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Còn Đệ nhị quốc tế không hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa. Vì vậy tôi đã bỏ phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu. Đồng chí đồng ý với tôi chứ ?"
Rô-dơ đồng ý, chị cười và nói, " Đồng chí đã tiến bộ."
Những đoạn trích dẫn trên đây đã cho chúng ta biết mấy điều quan trọng như sau :
_ Hồ chí Minh chưa biết gì về chủ nghĩa Mác với tư cách là một học thuyết triết học - chính trị. Những khái niệm rất tầm thường trong báo chí có khuynh hướng thiên tả như đấu tranh giai cấp, bóc lột, sản xuất..ông còn chưa biết rõ, nói gì đến những tư biện về lao động tha hóa, giá trị thặng dư, sứ mệnh giải phóng của giai cấp vô sản ..?
_ Đối với chủ nghĩa Lênin ông có biết đến nhưng lại rất hời hợt. Ông chưa đọc gì về Lênin, ngoại trừ bài " Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa " đăng trên tờ Lhumanité vào tháng 7 năm 1920 trước Đại hội Tours vài tháng. Có đọc nhưng thật sự ông cũng chẳng hiểu bao nhiêu, ngay cả các khái niệm căn bản.
_ Ông chọn lựa đi theo Lênin hoàn toàn chỉ vì, qua Đệ tam Quốc tế, Lênin hứa " giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập ". Đó là một chọn lựa hoàn toàn cảm tính, vội vàng, phiến diện : Chủ nghĩa Lênin là một học thuyết toàn diện về cách mạng vô sản ở những nước chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển, trong đó vấn đề giải phóng các thuộc địa chỉ là một bộ phận.
Với những thiếu sót trầm trọng như vậy, làm sao có thể gọi được là nghiêm chỉnh đối với thái độ chọn lựa nói trên của ông?
Tất nhiên không thể không xét đến chuyện về sau, cùng với thời gian hoạt động, ông đã tiếp cận lý luận cách mạng ngày càng nhiều hơn. Nhưng dù vậy đi nữa thì cũng không vì thế mà coi sự lựa chọn ấy là tuyệt đối đúng, phải trung thành để chuyển giao cho các thế hệ mai sau. Có rất nhiều lý do:
_ Sau khi Lênin mất, " chủ nghĩa Mác- Lênin đã dần dà bị Stalin hóa. Cách mạng vô sản ở những nước tư bản phát triển thoái trào, " chủ nghĩa xã hội " ở Liên xô thực chất là chủ nghĩa tư bản nhà nước, chủ nghĩa vô sản quốc tế chỉ là cái bình phong bảo vệ Liên xô và sự bành trướng của chủ nghĩa dân tộc xô viết.
_ Mục tiêu xây dựng một xã hội mác-xít có nền kinh tế phát triển cho một xã hội công bằng và tự do là hoàn toàn ảo tưởng. Các nước lấy Liên xô làm mô hình đều dẫm chân trong lạc hậu nghèo nàn, còn thể chế chính trị thì chỉ là sự nối dài của chế độ phong kiến, độc tài. Là vũ khí hiệu nghiệm trong lật đổ và cướp chính quyền nhưng bất lực trong phát triển.
Sự lựa chọn đường đi của Hồ chí Minh cho Việt Nam vì vậy là chọn lựa bất toàn : Nó có thể giành được độc lập cho dân tộc qua các hình thức đấu tranh bạo lực, nhất là chiến tranh, nhưng đã thất bại toàn diện xây dựng hòa bình. Không thể coi đó là " cái cẩm nang thần kỳ " để đưa nhân dân đến cõi hạnh phúc nghìn năm. Cũng không thể nói bừa rằng ta phải đi theo con đường xã hội chủ nghĩa vì " nhân dân ta đã chọn ". Nhân dân ta chẳng biết gì về chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ để chọn. Rất nhiều người chỉ đặt lòng tin vào Bác Hồ nhưng sự lựa chọn của Bác Hồ lại chẳng có gì được gọi là khuôn vàng thước ngọc cả.
Nhìn lại mọi việc đã xảy ra một cách bình tâm, chúng ta thấy sự chọn lựa của Hồ chí Minh đã bị quy định bởi cái tạng văn hóa sau đây của ông:
_ Hồ chí Minh là một người rất thực tế. Thúc đẩy bởi vấn đề bức xúc của đất nươc là độc lập, ông nhận thấy sự hứa hẹn của Đệ Tam Quốc tế là rõ rệt và rất triệt để, khác hẳn với những thế lực khác ( Mỹ, Nhật ), nên đã chấp nhận. Đối với ông chủ nghĩa Lênin thực tế lúc bấy giờ đồng nghĩa với giải phóng dân tộc là vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam. Cái tạng thực tế ấy sau này đã biểu hiện trong việc lãnh đạo của ông đối với mọi công việc: Nói năng, hành động, bao giờ cũng cố tránh những cái cao xa, trừu tượng.
_ Ông cũng lại là một người nhiều tình cảm và lý tưởng. Đọc Lênin, thấy gãi đúng ưu tư của mình, ông đã khóc lên vì vui sướng và tin ngay. Sau này tìm hiểu thêm thấy chủ nghĩa Cộng sản hứa hẹn chấm dứt những khốn khổ của những người lao động bị áp bức ông càng tin hơn. Khát vọng độc lập cho dân tộc của ông cũng gắn liền với mong mỏi đấu tranh cho một xã hội công bằng, nhân đạo. Cũng chính vì vậy mà óc thực tế của ông không trở thành óc thực dụng tầm thường. Ông chọn Lênin không chỉ vì con đường giải phóng đất nước mà còn vì nhu cầu có một người thầy, người cha tinh thần theo kiểu phương Đông để thờ phụng, tôn kính.
Tất cả những thuộc tính trên đây đều đã biểu hiện trong sự chọn lựa nói trên với những ưu và những nhược điểm của nó. Những người thần phục ông chỉ nói đến những cái ưu nhưng không hề dám nói đến những cái nhược quan trọng của ông sau đây : 1) Quá vội vàng, không suy xét can thận, cái trí không theo kịp cái tâm 2) Trung thành mù quáng với sự chọn lựa ban đầu, không học được tinh thần phản tỉnh để can đảm nhìn lại toàn diện con đường đã đi.
Những cái ưu của ông đã bộc lộ trong thời hoạt động bí mật, khi còn phải sống trong dân và phải nhờ dân che chở. Tính chất trong sạch lý tưởng, biết hy sinh vì nghĩa lớn của những người Cộng sản theo con đường của ông hoàn toàn không phải chỉ là chuyện tuyên truyền. Cũng nhờ thái độ ấy mà Đảng đã được đa số nông dân ủng hộ, góp sinh mạng và tài sản cho cuộc tranh đấu chung. Việc chiến thắng nhiều đế quốc hùng mạnh đã từng đến thống trị Việt Nam không đơn thuần chỉ là vấn đề thủ đoạn, chiến thuật. Trên nhiều mặt, Đảng Cộng sản hơn hẳn những lực lượng chính trị yêu nước khác. Trong thời kỳ bị lệ thuộc, người dân có nhìn vào ông như kẻ " cứu độ " thì cũng có gì đáng ngạc nhiên.
Những nhược điểm của sự chọn lựa của ông đã bộc lộ thật rõ rệt trong thời kỳ xây dựng hòa bình. Đấu tố, cải cách: phá hoại đến tận nền tảng đạo lý dân tộc. Hợp tác hóa: phản bội nông dân về ruộng đất. Chỉnh huấn: bơm máu đen vào cơ thể Đảng. Trấn áp, chà đạp trí thức văn nghệ sĩ : phản bội lời hứa về tự do văn hóa. Khoác lác về cái gọi là " dân chủ gấp triệu lần ", nhưng lại đè đầu cưỡi cổ nhân dân một cách rất tự nhiên như những cường hào. Làm mất hoàn toàn động lực về phát triển kinh tế qua chủ trương nhà nước hóa toàn bộ sản xuất. Nói chung: giam hãm dân tộc trong cái ao tù chuyên quyền độc đoán, lạc hậu nghèo nàn.
Những sai lầm trên đây không phải là những " tồn tại " hoặc những " khuyết điểm " như Đảng đã giải thích. Chúng nằm ngay trong sự chọn lựa của Hồ chí Minh - hợp nhất quá vội vàng giữa hai vấn đề hoàn toàn khác nhau về bản chất : giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội. Chân giép lốp mà đi vào vũ trụ. Một bên là giép lốp, một bên là vũ trụ; với giép lốp thì không thể đi vào vũ trụ được, nhưng ta cứ " thừa thắng xốc tới " , vì vậy mà bao nhiêu điều tàn tệ đã xảy ra. Cái ý thức hệ Mác-xít Lêninnít mà Hồ chí Minh ghép vào chủ nghĩa dân tộc của ông ( " từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội " ) đã bộc lộ hết thực chất không tưởng và bất lực của nó. Trung thành mù quáng, căn cứ vào đó buộc thực tế phải uốn theo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến sự lựa chọn của Hồ chí Minh thành vật cản đường cho sự phản triển tự nhiên của đất nước.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Sự thất bại của mô hình Lêninní t về phát triển cho những nước nghèo nàn, lạc hậu là quá rõ ràng. Do sự thúc ép của hàng loạt những nhân tố trong và ngoài nước, nhất là sự sụp đổ của Liên xô và Đông âu, Đảng Cộng sản Việt Nam phải chấp nhận điều chỉnh đường đi, chuyển nền kinh tế " bao cấp, mệnh lệnh " sang hẳn kinh tế thị trường, mở cửa làm ăn với thế giới tư bản. Khái niệm, " tư tưởng Hồ chí Minh " đã ra đời trong tình hình đó như một thích ứng.
Nhưng xét kỹ thì đây không phải là sáng kiến hay ho gì lắm. Hồi Hồ chí Minh còn sống, ông đã trả lời nhiều người rằng ông không có tư tưởng gì cả. Nếu có một người xứng đáng ở Á châu này thì đó chính là Mao trạch Đông ( chính vì vậy mà điều lệ Đảng Đại hội 2 đã ghi : Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Mao trạch Đông, phong cách Hồ chí Minh). Đối với ông, khi chọn chủ nghĩa Lênin rồi, đó đã là tất cả, là cái " cẩm nang thần kỳ" có thể giải quyết được mọi chuyện trên đời, chẳng cần phải nhọc công tìm kiếm làm gì nữa. Nói do ông khiêm tốn có lẽ chỉ một phần, chính yếu là do có óc thực tế, ông biết rằng mình không thể nào nắm tóc mình để tự đưa lên cao được. Gán cho ông điều ông không có và không muốn có, những đệ tử của ông chỉ làm cái công việc lợi dụng như họ đã từng bất chấp di chúc của ông khi cho ướp xác và xây lăng cho ông.
Sự lợi dụng đó cũng không phải là đắc sách lắm. Nó chẳng có tác dụng làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin được phát triển hay bổ sung thêm. Đó chỉ là một bước lùi ý thức hệ đi cùng với bước lùi về kinh tế, hoàn toàn chỉ có ý nghĩa thực dụng : Phải tìm cách làm dịu đi những giáo điều đã bị thời gian chứng minh là không tưởng, bất lực, sắt máu mà ai cũng biết như công hữu về tư liệu sản xuất, chủ nghĩa tập thể, đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, quốc tế vô sản ..v..v. Và trong khi né tránh bớt những khái niệm đã mất giá ấy thì một số thuộc tính khác đã được nhấn mạnh hơn, ồn ào hơn : Nào là yêu nước, truyền thống, độc lập, tự chủ, nào là nhân ái, thân dân, hòa hợp .. toàn là những sản phẩm phương Đông và nội địa mềm mại, dịu dàng không có gì là ngoại lai, khắc nghiệt cả. Cái thủ đoạn thao tác lý sự ở đây cũng quá rõ ràng : Trong hai thành phần được Hồ chí Minh kết hợp lại trong sự chọn lựa của mình - chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản - thì thành phần thứ nhất đã được đưa lên hàng chính diện để làm lu mờ bớt thành phần thứ hai đi.
Những người có ý hướng cải cách trong Đảng đã nhận ra thủ đoạn này. Họ chỉ ra được cái mưu tính thực sự của những nhà ý thức hệ chính thống: Miệng nói Hồ chí Minh nhưng hành động vẫn không khác gì Stalin và Mao trạch Đông, nghĩa là vẫn chuyên chế, khắc nghiệt, giả dối, xảo quyệt. Sự chỉ trích không phải là vô căn cứ. Đảng chỉ dùng Hồ chí Minh như cái bung xung chứ chẳng có thật lòng gì cả. Theo những người cải cách thì thật lòng là phải thay đổi triệt để phương thức lãnh đạo của Đảng : Phải từ bỏ đường lối nửa vời, khập khiễng, từ bỏ hẳn chuyên chính vô sản và thực hiện dân chủ cho tương xứng với chính sách mở cửa và kinh tế thị trường. Chỉ với đường lối cải cách triệt để ấy, Đảng mới tạo ra những điều kiện tích cực để khắc phục những ruửng nát nội tại, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh chóng. Cũng theo những người cải cách thì sự thay đổi ấy không nằm ở đâu khác ngoài tư tưởng Hồ chí Minh đích thực. Trong hình dung của họ, thực chất của Hồ chí Minh là phi-Stalin và phi-Mao- một Hồ chí Minh nhân đạo dân chủ !
Dù cho có ủng hộ cải cách, chúng ta thật khó lòng mà tìm được sự khách quan trong cách lập luận trên đây : Nếu Hồ chí Minh đối với những nhà ý thức hệ chính thống chỉ là một hình ảnh giả thì đối với những người cải cách, Hồ chí Minh cũng không thật là bao nhiêu. Sự khác nhau giữa hai quan điểm chỉ là sự khác nhau về cách khai thác hai khía cạnh trong sự chọn lựa của Hồ chí Minh : Một bên nghiêng về phần quốc tế và vô sản, một bên lại nghiêng về phần quốc nội và dân tộc; một bên nghiêng về phần " chuyên chính vô sản " thì bên kia lại muốn loại bỏ nó. Cả hai đều làm biến dạng đi một Hồ chí Minh đích thực : Một người Việt Nam yêu nước, nhưng cũng là một người Việt Nam yêu nước theo phương thức của Lênin, một người đã có đem lại cho đất nước sự tự chủ va thống nhất nhưng cũng lại là một người đã cho du nhập vào đất nước một học thuyết ngoại lai mà tác hại của nó còn kéo dài cho đến ngày nay chưa gỡ bỏ được.
Có thể cho rằng lập luận của những người cải cách chỉ là một cách trình bày mang tính chất kỹ thuật tranh đấu trong hoàn cảnh không có tự do tư tưởng, và nếu như vậy thì có lẽ sẽ không cần bàn luận thêm. Nhưng nếu trong chúng ta có ai thành thật tin rằng với chủ trương ấy, đất nước sẽ bước vào được một chế độ dân chủ hiểu theo nghĩa hiện đại thì chắc chắn sẽ có không ít người lên tiếng bày tỏ sự nghi ngờ: Giả sử như có gạt đi hết tất cả những phần ngoại lai, ảo tưởng của Hồ chí Minh về con đường tiến lên " chủ nghĩa xã hội " theo kiểu Lênin, thì Hồ chí Minh vẫn không thể là ngọn cờ dân chủ được.
YÙ kiến này thật đáng suy nghĩ. Mặc dù Hồ chí Minh có nói nhiều đến dân chủ, nhưng quan niệm của ông vẫn rất xa lạ với cái nội dung mà Thời Hiện Đại đã sản sinh ra nó, đặc biệt là cái tính chất giao ước trần tục của sự phân chia và kiểm soát quyền lực, căn cứ vào đó tổ chức và quản lý đời sống công cộng. Ông không biết gì đến tính chất độc lập của xã hội công dân đối với nhà nước, và ông cũng không hiểu tính chất quyết định làm nên nhà nước hiện đại là nhà nước phi thiên mệnh, nhà nước sinh ra từ pháp luật và tồn tại bằng pháp luật. Quan niệm của ông về mối tương quan giữa nhà nước và nhân dân vẫn là quan niệm của Nho giáo lý tưởng; cái loại nhân dân mà ông yêu mến vẫn chỉ là loại " xích tử " cần phải được dạy dử về luật trời và phép nước, đồng thời lại phải biết lo cho họ về những chuyện " tương cà mắm muối " để sống trong yên ổn; còn nhà nước theo quan niệm của ông vẫn chỉ là thứ nhà nước của những người hiền, những bậc minh quân kiểu vua Nghiêu, vua Thuấn đời xưa. Những gì ông nói về " pháp chế xã hội chủ nghĩa " hoặc " cán bộ là đầy tớ của nhân dân" cũng đều dựa trên cơ sở ấy. Chúng chỉ là những ý định tốt của những đấng, những bậc bề trên.
Sở dĩ ông chọn chủ nghĩa Lênin một cách vội vã và vô điều kiện như ta đã biết có lẽ là do ông đã trực giác được tính chất " bên trên " của cách mạng vô sản Lêninnít trong việc làm lại nước Nga với những tàn dư nặng nề của thời trung cổ. Là người dân chủ, hiểu rõ học thuyết Mác, nhưng tình thế đã buộc Lênin làm ngược lại tất cả những gì mà Mác đã hình dung ra cho xã hội tương lai: Thay vì để cho giai cấp vô sản tự mình trở thành nhà nước như trong Công xã Paris 1871 thì nhà nước Xô viết lại phải đảm đương công việc giáo dục và tổ chức lại cái giai cấp vô sản đã tan tác và mất hết tính chất tiền phong sau cách mạng và nội chiến. Dự định khởi đầu là một lãnh tụ vô sản vượt xa nền dân chủ tư sản " hàng triệu lần ", cuối cùng, Lênin thừa nhận đã phải theo gương của một ông vua của thế kỷ 18 - Pierre Đại Đế - công khai dùng độc tài để chống lại dã man, lạc hậu.
Cảm nhận của Lênin về sự không ăn khớp giữa chủ nghĩa Mác hậu hiện đại và nước Nga tiền hiện đại, Hồ chí Minh hoàn toàn không hề biết đến, ông chỉ thấy trong những hành động độc tài của Lênin trách nhiệm tự nhiên của những minh quân thời trước, nay được hiện đại hóa qua khái niệm chuyên chính vô sản của Đảng Cộng sản : Đó là một nền chuyên chế nhân đức và cách mạng, một nền chuyên chính vì nhân dân chứ không phải là cái gì khác. Cái lô-gích của vấn đề ở đây vẫn là cái lòng tốt từ trên ban xuống. Muốn được giải phóng, muốn có quyền lực, nhân dân phải hết lòng đi theo Đảng. Đại biểu cho quyền lợi lâu dài của nhân dân nên Đảng được phép làm tất cả để tạo dựng nên cuộc đời mới cho họ. Sự chuyên chính của Đảng là sự chuyên chính của đám đông, của chính nghĩa, của khoa học, của chân lý, của cách mạng. Vì vậy phải tập trung quyền lực vào Đảng một cách tuyệt đối và vĩnh viễn, không chia với bất cứ ai, không nhân nhượng với ai một mẩu xác tín nào về chân lý, ai có ý đi ngược lại thì chỉ là những lý lẽ của bọn thù địch với nhân dân, cần phải thẳng tay trừng trị.
Với một quan niệm về quyền lực sắt thép như vậy, Lênin đã dọn đường cho Stalin vắt cạn sức lực của người dân để nhanh chóng đưa nước Nga vào con đường công nghiệp hóa, còn Hồ chí Minh cùng với Đảng Cộng sản đã tích tụ được những hy sinh vô hạn của nhân dân để đánh bại nhiều thế lực xâm lược hung hãn, giành lại độc lập thống nhất cho Việt Nam. Nhưng còn về dân chủ, cùng với bao nhiêu thứ khác nữa mà các Đảng Cộng sản đã hứa sẽ đem lại cho nhân dân trước đây, như bình đẳng, tự do, hạnh phúc vv.v. Tất cả đều vẫn chỉ là những lời hứa, và tệ hơn nữa, về sau này đã biến thành những lời dối trá đơn thuần. " Chuyên chính vô sản " , "Chuyên chính nhân dân " bây giờ đã trở thành chuyên chính với giai cấp vô sản, chuyên chính với nhân dân. Hiện tượng suy thoái này, vào cuối đời mình, Lênin đã mơ hồ nhận ra như một bi kịch, nhưng ở Hồ chí Minh, mọi việc dường như đã êm xuôi như ván đã đóng thuyền, cứ thế lướt sóng mà đi, từ bây giờ cho đến cả muôn đời con cháu mai sau!

BÀI HỌC CỦA NGƯỜI ANH HÙNG

Gần một thế kỷ đã qua, cùng với những biến chuyển lớn lao trên thế giới và đất nước, hình ảnh Hồ chí Minh đối với dân tộc Việt Nam đã không còn như xưa nữa. Tính chất lý tưởng, cao vời mà Đảng Cộng sản đã cố sức tô vẽ cho một Hồ chí Minh thần thánh đã không chống đỡ nổi cho những sự việc tầm thường, sai lầm của một Hồ chí Minh thực tế nên càng cố thần thánh hóa ông bao nhiêu lại càng gây ra tác dụng ngược đời lại bấy nhiêu. Thỏa đáng nhất là nhìn ông với những gì ông có, một cách hiện thực.
Mặc dù tên tuổi của Hồ chí Minh gắn liền với những gì làm nên cái gọi là " Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam " ngày nay, thiết nghĩ không nên đồng hóa tên ông với toàn bộ chế độ. Thế giới đã có những kinh nghiệm tương tự. K.Marx không phải là không có liên quan đến cái thực thể gọi là " chủ nghĩa xã hội " ở Liên xô, nhưng đổ mọi sai lầm của Liên xô lên đầu K. Marx là hoàn toàn không đúng. Mối quan hệ giữa Lênin và Stalin cũng có những điểm cần phân tích theo chiều hướng đó. Trường hợp Hồ chí Minh đối với chế độ chính trị hiện tại ở Việt Nam có đặc biệt hơn nhưng cũng cần biết rằng hình ảnh của ông đã bị chế độ tô vẽ bằng mọi cách để huyễn hoặc quần chúng.
Cũng đừng quên rằng những gì làm nên đặc trưng của Hồ chí Minh là vai trò của ông trong thời kỳ chống ngoại xâm, một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt của thế kỷ 20, giai đoạn mà việc đấu tranh giành độc lập không thể tách rời việc chọn lựa một ý thức hệ. Cần chú ý ghi nhận đặc biệt này : Trong khi vấn đề độc lập là quá rõ ràng về ý nghĩa thì vấn đề ý thức hệ trong thời hiện đại lại chứa đầy cạm bẫy và phức tạp. Những cái hay cái dở không phải lúc nào cũng hiển hiện ngay từ đầu. Những gì tạm thời chưa được chấp nhận chưa hẳn đã sai, những gì mang đến thắng lợi chưa hẳn đã đúng. Hơn nữa sự sai/đúng cũng không phải lúc nào cũng như nhau: đúng lúc này có thể sai lúc khác; xem tất cả sự sai/đúng một cách trừu tượng, bất dịch rồi căn cứ vào đó để tâng bốc quá trớn hoặc kết án nghiệt ngã - một lần là xong - là quá đơn giản. Thái độ ấy không thích hợp cho những tiếp cận khách quan về lịch sử.
Nhìn tổng thể về thế kỷ 20, tôi cho rằng Hồ chí Minh là một anh hùng lớn của Việt Nam trong thời kỳ chống các thế lực thực dân. Những gì mà thế giới biết đến Việt Nam một cách tích cực cho đến nay vẫn là sự kiện Hồ chí Minh đánh bại các thế lực xâm lược hiện đại, giành được độc lập cho dân tộc. Thiết tưởng dù chính kiến và tình cảm có khác nhau như thế nào đi nữa, người ta không thể phủ nhận được tính chất hiển nhiên của các sự kiện ấy. Có thể với nhiều người ở những nơi nào đó, cái chuyện đánh nhau giành độc lập ấy thật sự chẳng có gì quan trọng lắm đối với cuộc sống, nhưng đối với đông đảo những người Việt Nam, tư xưa cho đến nay, điều đó lại là một trong nhiều lý do để sống, không thể coi như không có.
Thời trai trẻ, tôi quý trọng Hồ chí Minh là do ông đã tô đậm cái tình cảm tự nhiên đó trong tôi để tôi biết trách nhiệm với đất nước. Nhưng cũng chính vì tình cảm và trách nhiệm ấy mà khi tóc đã bạc rồi, tôi không còn có thể mù quáng tin vào ông nữa. Hồ chí Minh chỉ là một nhân vật của lịch sử, còn đất nước là chuyện của muôn đời : Không thể cột chặt vận mệnh đất nước vào sự chọn lựa bất toàn của một con người, dù đó là một anh hùng. Tốt nhất vẫn là ghi nhận tất cả những chuyện đúng sai của ông một cách bình thản, hy vọng chỉ có như thế mới rút ra được những bài học hữu ích cho những thế hệ đi sau.
Đối với tôi, sự chọn lựa ý thức hệ cho đất nước của Hồ chí Minh là bài học đáng suy ngẫm hơn cả. Tất cả đều là những ý định tốt đẹp nhưng tất cả đều thiếu cái chiều sâu của sự phản tỉnh triết học. Là sự chọn lựa vội vàng từ đầu và cũng là sự trung thành mù quáng về sau. Lầm lũi đi theo ông, dắt theo mình cái gói hành trang của những ý định tốt đẹp ấy, không biết thường xuyên quay đầu nhìn lại, không có gì bảo đảm để chúng ta không vấp lại những sai lầm của ông - đẩy cái đám đông nhân dân mà mình muốn đưa lên thiên đàng xuống chín tầng địa ngục ! Nhất là những ý định tự cho là duy nhất đúng đắn, cần được bảo vệ quyết liệt bằng một định chế quyền lực cũng tự cho là duy nhất đúng đắn.
Tôi nghĩ rằng bài học ấy không chỉ đáng suy ngẫm cho những người xưng tụng ông mà còn cho cả những người chống ông nữa.
LỮ PHƯƠNG
 

TÌM HIỂU SỰ THẬT QUA BÀI VIẾT TRÊN

Trước đây người đảng viên Nam kỳ kỳ cựu Nguyễn văn Trấn có viết cuốn sách " Viết cho mẹ và quốc hội " trong đó ông Trấn kể lại chuyện bạn ông là Bùi công Trừng nói cho ông nghe chuyện trong một buổi họp Lê đức Thọ đã ăn hiếp Hồ chí Minh một cách tàn tệ và thô bỉ, cùng tiết lộ là Lê đức Thọ có âm mưu muốn dùng Nguyễn chí Thanh để thay Hồ chí Minh. Nay thì có một đảng viên Nam kỳ thứ hai là Lữ Phương viết bài " Huyền thoại Hồ chí Minh " để bạch hóa những huyền thoại chung quanh ông Hồ, một người vốn có nhiều huyền thoại, huyền thoại có thể có căn cứ, có thể do những người yêu kính ông dựng lên cho ông và có thể do bản thân ông tự dựng lên để cho mọi người thấy con người tài giỏi, siêu việt của ông. Vấn đề là làm sao tìm ra những sự thật khả tín trong những huyền thoại bao quanh Hồ chí Minh đó. Bài viết của Lữ Phương nói chung cũng tiết lộ ra một vài sự thật, nhìn ra được những nguyên nhân mà bộ máy chính quyền ra sức thần thánh hóa ông Hồ để nhằm mục đích biến ông thành một biểu tượng thiêng liêng có lợi cho công cuộc đấu tranh.
Đầu tiên Lữ Phương kể ra những chuyện giai thoại mà ông được nghe kể từ khi ông vào chiến khu ở cục R năm 1968. Đó là chuyện ông Hồ từ chối thay đôi dép râu ông đi đã mòn lẳn. Có cậu bảo vệ đề nghị ông Hồ thay nhưng không được ông đồng ý nên cậu bèn lén thay đôi giép râu cũ rích, sờn rách của ông đi bằng một đôi giép râu mới .Nhưng khi phát hiện ra điều này, ông yêu cầu trả lại đôi giép râu cũ cho ông. Chuyện này nói chung cũng khó kiểm chứng. Còn câu chuyện năm nào gần tết , mặc dù bận trăm công ngàn việc, ông vẫn gọi điện thoại cho Bác sĩ Trần duy Hưng là thị trưởng Hà nội để hỏi xem có đủ lá giong cho dân gói bánh chưng chưa. Không biết ông Bác sĩ Trần duy Hưng có còn sống không để kiểm chứng câu chuyện này có thật hay không?. Lữ Phương cho rằng từ vai trò của một người anh hùng giải phóng dân tộc, ông còn là hình tượng của người đi cứu độ chúng sinh nữa. Lữ Phương kể chuyện ông đã thấy người ta đã dựng bàn thờ của ông Hồ ngay giữa bùng binh Sài gòn để thắp khói hương nghi ngút tưởng niệm ông. Trong cuốn sách " Từ thực dân đến Cộng sản" Học giả Hoàng văn Chí có kể những nông dân miền Trung, trong thời kháng Pháp, trước khi đi ra đồng, đã đến trước chân dung ông Hồ thắp hương khấn vái ông Hồ dù lúc ấy ông chưa qua đời.
Thật ra, ông Hồ còn có những chuyện lặt vặt mà người đời còn nhắc lại. Đó là chuyện ông hay đặt tên cho những người bên dưới. Hồi Bác sĩ Tôn thất Tùng có đứa con trai đầu tiên. Ông nói với Bác sĩ Tùng " Tên chú thuộc bộ mộc nên đứa con trai này nên đặt tên là Bách. " Cậu Tôn thất Bách sau này lớn lên cũng trở thành bác sĩ như bố và mới qua đời cách đây không lâu vì chứng bệnh nhồi máu cơ tim. Cựu bộ trưởng tư pháp của Mặt trận giải phóng miền Nam là Trương như Tảng, sau khi vượt biển qua tỵ nạn ở Pháp có viết một cuốn hồi ký nhan đề " Hồi ký của một Việt Cộng " ( Memoir of a VC" ( trang 14 , bản tiếng Anh) có kể chuyện khi ông gặp ông Hồ ở Pháp, ông Hồ có đề nghị đổi tên cho ông Tảng một cách khá tức cười như sau. Ông Hồ nói với ông Tảng rằng, " Trong gia đình cháu, tên anh và em cháu là tên của đá quý ( ông anh ông Tảng tên Quỳnh..tức Quỳnh Dao là một loại ngọc, đứa em ông Tảng tên Bích..tức Ngọc Bích là tên một loại ngọc). Còn cháu tên " Tảng " tức là " tảng đá" nghe không được hay cho lắm. Bác đề nghị đổi tên cháu là " Toàn " ..tức " Toàn bích " có nghĩa là " hòn ngọc không có vết" " .". Câu chuyện đặt tên cho con trai Bác sĩ Tôn thất Tùng và đòi đổi tên cho Trương như Tảng là câu chuyện thực được những người trong cuộc kể lại chứ không phải là giai thoại mù mờ không có căn cứ.
Bác sĩ Phan quang Đán có kể cho người viết bài này nghe một giai thoại về Hồ như sau : Trong túi áo của Hồ bao giờ cũng có hai bao thuốc, một là thuốc lá ngoại quốc, hai là thuốc rê. Khi gặp khách, Hồ mang thuốc rê ra mời, còn khi ở một mình thì hút thuốc lá ngoại quốc. Câu chuyện này cũng nói lên cái cá tính láu cá vặt , tinh ranh vặt của Hồ. Đôi khi những chuyện vặt vãnh tầm thường như thế cũng nói lên được cái cá tánh đặc thù của một con người.
Sang đến chuyện tình cảm cá nhân của Hồ, Lữ Phương có kể lại chuyện Kim Hạnh lúc còn làm Tổng biên tập báo Tuổi trẻ, đã bị cách chức và đuổi khỏi làng báo ngay lập tức vì đã đăng trên trang nhất bài thơ tiếng Hán mà Lý Thụy ( biệt danh của Hồ chí Minh lúc đó) gửi cho người vợ Tàu. Rồi sau này những sử gia học giả Tây phương còn công bố ra những tài liệu mật cho biết khi đi dự một Đại hội Quốc tế Cộng sản ở Nga, ông Hồ đã khai có vợ và người vợ ấy chính là đồng chí Nguyễn thị Minh Khai chứ không phải là ai khác ! Cũng cần nói thêm ở đây Nguyễn thị Minh Khai là vợ của Lê hồng Phong và là chị ruột của Nguyễn thị Minh Thái, vợ đầu của Võ nguyên Giáp. Sau này bà Minh Thái chết trong tù Pháp, Võ nguyên Giáp lấy người vợ thứ hai là Đặng thị Hà, con gái của Đặng thai Mai.
Lữ Phương còn kể thêm chuyện ông Hồ ăn ở với cô Xuân ( Nông thị Xuân) một người thiểu số gốc Nùng, cô này do mật vụ Trần quốc Hoàn đưa về để phục vụ ông Hồ, nhưng sau đó cô Xuân bị giết đi và đứa con trai của cô và ông Hồ tên Nguyễn tất Trung được đưa cho Vũ Kỳ nuôi, và được đổi tên là Vũ Trung. Vũ Kỳ là người hầu cận thư ký của ông Hồ. Lữ Phương cũng kể thêm chuyện ông Hồ khi năm 1941 về nước có quan hệ tình ái với một nữ cán bộ cần vụ người Tày và sinh ra Nông đức Mạnh, hiện nay đang làm Tổng bí thư. Sau này khi bị báo chí nước ngoài truy hỏi ông Hồ có phải là cha của ông không thì ông Mạnh trả lời huề vốn cho qua chuyện, " Người Việt Nam ai cũng là con cháu Bác Hồ ". Ông Mạnh cho biết cha ông tên Lai nhưng không có giấy tờ hay hình ảnh nào chứng tỏ điều ông Mạnh nói. Dĩ nhiên đứng ở thế ông Mạnh thì ông phải chối mà thôi vì chế độ Hà nội trong mấy mươi năm qua đã tô vẽ ông Hồ như một vị thánh không gần đàn bà, thì làm sao có đứa con rơi như ông Mạnh được !
Chuyện bi thảm kịch Nông thị Xuân có lẽ Lữ Phương cũng đọc được từ những sách báo nước ngoài do hai nhân chứng quan trọng là nhà văn Vũ thư Hiên và ông Nguyễn minh Cần kể lại. Khi chế độ tàn ác Hà Nội quyết định giết cô Nông thị Xuân và người em họ Nông thị Vàng ( sau này có người cho rằng hai cô này họ Nguyễn )và cô em họ tên Nguyệt, họ tưởng là đã bịt miệng tất cả những người biết về chuyện giết cô Xuân, nhưng rồi không có gì che dấu được mãi dưới ánh sáng mặt trời. Chuyện giết cô Xuân đã được ba người biết và kể rõ mọi chuyện cho hậu thế nghe câu chuyện giết người kinh tởm này. Đó là nhà văn Vũ thư Hiên, ông Nguyễn minh Cần và người hôn phu của côVàng, em ruột của cô Xuân.
Xin ghi lại lời tường thuật của ba nhân chứng này để thấy toàn bộ chi tiết vụ án Nông thị Xuân, người mà ông Hồ ăn nằm có một đứa con trai. Đây là một chuyện có thật một trăm phần trăm chứ không phải là giai thoại hay huyền thoại vu vơ gì hết.
Đầu tiên là lá thư của một anh thương binh hôn phu của cô Nguyễn thị Vàng, trong một bức thư gửi cho ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ tịch quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 29 tháng 7 năm 1983, trong đó có những đoạn sau :
" Đến độ một tuần sau, vào 7 giờ tối ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em(lời cô Vàng kể với vị hôn phu) còn nhớ như đinh đóng cột. Một chiếc xe commăng ca thường đón chị Xuân lên gặp Bác Hồ, anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra đi. Sáng hôm sau, ngày 12 tháng 2, một nhân viện Công an Hà nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô chết rồi, hiện còn để ở nhà xác Bệnh viện Phủ Doãn. Em hốt hoảng đưa cháu cho chị Nguyệt, ra lên xe Công an vào bệnh viện. Em không được vô nhà xác, họ nói còn mổ tử thi. Lên một phòng chờ em thấy trong phòng đã khá đông người : Công an, Tòa án, Kiểm soát viên. Sau một tiếng, hai bác sĩ, một cán bộ Công an, một kiểm soát viên lên phòng chờ, đem theo một tờ biên bản đọc to cho mọi người nghe. Tử thi thân thể không có thương tích, thấy rõ không bị tai nạn ô tô và cũng không phải bị đâm chém đánh đập gì. Mổ tử thi trong cơ thể lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì. Dạ dầy không có thức ăn, không có thuốc độc. Tử cung không có tinh trùng biểu thị không bị hiếp dâm.
Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt . Mổ sọ não không còn óc, mà chỉ còn nước nhờn chảy tuôn ra. Bác sĩ tuyên bố đây có thể nạn nhân bị chùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh vào giữa đầu. Đây là phương pháp giết người của bọn lưu manh chuyên nghiệp của nhiều nước đã sử dụng. Em vô cùng đau khổ chạy về kể chuyện lại cho chị Nguyệt nghe để hai chị em cùng khóc. Ít lâu sau một cán bộ Công an đến bế cháu Trung đi, chúng em không được biết đem đi đâu. Rồi em thì được đi học một lớp y tá của khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên. Chị Nguyệt không biết họ cho đi đâu sống chết thế nào. Học mấy tháng thì em được chuyển vào bệnh viện Cao Bằng, em khóc luôn, họ cho là em bị thần kinh nên cho về đây điều trị. Nay lại được gặp anh kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết được vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng có hôm em thấy thằng Ninh xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít hôm họ tuyên bố em bị thần kinh được chuyển về điều trị tại Hòa An.
Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957 đi về thăm ông cậu Hoàng văn Đệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi rồi quăng xác xuống sông Bằng Giang, đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu Hoàng Bồ thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận xôn xao là cô Vàng bị đánh vỡ sọ, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất. Tôi đâm bổ về Hà nội liên lạc với một cậu bạn cùng học làm việc ở Tòa án Hà nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết thì bạn tôi sao cho tôi một bản Công Văn Viện Kiểm sát hỏi tòa án về vụ em tôi và cô Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó trình ông để tiện việc điều tra. Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ chí Minh, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở Trường y tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói chuyện lại cũng bị giết lây.. "
( Có thể tìm đọc toàn bộ bức thư này trong cuốn sách " Bí ẩn quyền lực và tình ái của Hồ chí Minh" của Trần viết Đại Hưng đã xuất bản, hay có thể vào mạng www.quehuongmedia.com tới phần TÀI LIỆU)
Những điều trình bày trong thư của người thương binh hôn phu của cô Nguyễn thị Vàng khá cụ thể và đầy đủ. Không biết người thương binh xấu số này tới bây giờ còn sống hay đã qua đời. Như vậy trong vụ án cô Xuân có 3 người bị giết là cô Xuân, cùng cô em ruột là cô Vàng và cô em họ là cô Nguyệt sống chung nhà cũng bị giết luôn để diệt nhân chứng. Một chi tiết trong thư cần phải nêu ra ở đây là câu nói cô Xuân nói với ông Hồ, " Sau ngày sinh cháu Trung, xin Bác cho mẹ con ra công khai." Bác nói, " Cô xin như vậy là hợp tình, hợp lý. Nhưng phải được bộ chính trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa." Có hai cách giải thích cho câu trả lời của ông Hồ. Cách giải thích thứ nhất là nếu ông nói thành thật, thì rõ ràng ông không có quyền quyết định mọi chuyện mà còn phải chờ ý kiến của những người lãnh đạo cao cấp trong Đảng như Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng quốc Việt. Ngay cả chuyện cô Xuân vợ ông xin đòi ra công khai thì ông cũng không dám định đoạt mà xin hoãn để hỏi ý kiến mấy đồng chí nói trên trước đã. Cách giải thích thứ hai là ông vờ vịt nói dối với cô Xuân để mua thời gian hầu có thể chạy làng vì thời gian này ông chưa bị thất sủng nên quyền uy của ông còn lớn và ông có thể quyết định mọi chuyện ông muốn, kể cả chuyện lấy cô Xuân làm vợ.
Nhà văn Vũ thư Hiên trong cuốn hồi ký " Đêm giữa ban ngày " cũng đã nói đến vụ án cô Xuân nói rõ thủ phạm chính trong vụ án cô Xuân là Trần quốc Hoàn, nguyên bộ trưởng Công an như sau:
"Cha tôi sai tôi chở ông lên đường Cổ Ngư cũ về phía Chèm. Tới dốc lên đê, ông bảo tôi dừng xe. Châm một điếu thuốc, ông chọn chử cỏ sạch để ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên ông.
Ráng chiều bắt đầu nhuộm đỏ mặt hồ Tây và một phần hồ Trúc Bạch. Gió nồng ẩm mang theo hương dong nước ngọt bị vứt lên bờ và hương lá mục ngai ngái.
_ Con nhớ lấy chử này, quãng gốc cây thứ tư và thứ năm từ trên đê đổ xuống _ cha tôi chỉ tay về phía trước _ Nơi này đã xảy ra một tấn thảm kịch mà rồi đây con phải tìm hiểu để mà viết. Nó là tấn thảm kịch có tính chất tượng trưng cho một sự đổ vỡ lớn của một nền đạo đức và rộng ra,của một thời đại..
Mắt cha tôi mờ đi. Giọng ông đứt quãng.
_ Con không hiểu bố muốn nói gì..
_ Lúc này con không hiểu cũng được. Hiểu bây giờ vừa sớm, vừa nguy hiểm. Việc của bố là đánh động trí nhớ của con, bắt nó ghi lại một lời nói không rõ ràng để đừng quên, sau này.. Thôi, ta về ..
Trên đường về nhà cha tôi không nói thêm lời nào nữa. Tôi cũng không dám hỏi. Nếu cha tôi đã không nói, có nghĩalà hỏi cũng vô ích.
Ông Nguyễn Tạo đã giải đáp cho tôi câu hỏi đó, nhiều năm về sau :
_ Bố anh không muốn kể vì vào thời kỳ câu chuyện xảy ra bố anh không còn làm việc với Bác Hồ nữa, bố anh e mình không nắm rõ, không trực tiếp biết sự việc, không biết chi tiết, kể sẽ không đầy đủ, không khách quan. Hoặc giả, bố anh sợ anh biết câu chuyện quá sớm thì hại cho anh, tôi không rõ..Nhưng bố anh muốn anh biết để có lúc anh sẽ phải viết ra. Bố anh bảo tôi kể cho anh nghe cũng không ngoài ý đó.
_ Bác biết ?
Ông gật đầu:
_ Không phải chỉ mình tôi biết. Còn có người khác biết. Số cán bộ công an ở cấp vụ trưởng hồi bấy giờ đều biết cả..
_ Vậy chuyện gì đã xảy ra ở dốc Chèm, thưa bác ?
_ Một vụ án oan khuất
_ Ở chính nơi bố cháu chỉ cho cháu ?
_ Ở đó. Có một người đàn bà bị xe cán chết, hay nói cho đúng hơn, xác của người đó.
_ Một hiện tượng giả?
_ Chính là như vậy. - ông ngậm ngùi - Người đàn bà này bố anh cũng biết, tên là Xuân, quê ở huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Cô Xuân rất xinh gái, da trắng nõn, miệng tươi như hoa, được Ban bảo vệ sức khỏe Trung ương tuyển vào trông nom sức khỏe cho Bác Hồ..
_ Thời gian nào, thưa bác ?
_ Sau khi hòa bình lập lại, khoảng năm 1955..
_ Cùng được Trần đăng Ninh tuyển một lúc với cô Xuân còn có hai người em gái cô ta, một em ruột, một em họ, cũng là con cái gia đình gốc gác cách mạng cả. Họ được bố trí ở trong một ngôi nhà ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, sát đường Quang Trung. Thông thường, Trần quốc Hoàn tự thân đưa cô Xuân vào gặp Bác rồi đưa về..
_ Mửi lần như vậy bà ta ở lại bao lâu?
_ Không chừng. Có khi chỉ một đêm, có khi đôi ba hôm. Cô Xuân rất được lòng Bác. Họ có với nhau một con trai, được đặt tên là Trung, Nguyễn tất Trung.
Về sau trước khi Bác mất, Bác ủy thác thằng Trung cho Vũ Kỳ chăm sóc, coi như con nuôi..
Tôi sững sờ. Lại thêm một bí mật tôi được biết trong những bí mật cung đình được giữ rất kín.
_ Như vậy, có thể coi như bà Xuân là bà hoàng hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam?
Ông cười chua chát :
_ Có thể coi là như vậy. Và là bà Hoàng hậu bất hạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Bất hạnh vì không một ngày được thừa nhận là hoàng hậu, vì đẻ đứa con không được gọi cha ruột của nó bằng cha.. Tất cả diễn ra trong sự lén lút nhục nhã, như thể đó là tội lửi.
_ Ai đã giết bà Xuân?
_ Đừng vội. Ta hãy ghi nhận sự việc này : vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng. Đó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được nổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần quốc Hoàn.
_ Tại sao lại Trần quốc Hoàn ?
_ Bởi vì cô Xuân là người của cơ quan trực thuộc Trung ương, việc xảy ra phải báo cáo ngay cho Trần quốc Hoàn biết.
_ Rồi sau thì sao?
_ Chưa hết. Sau, em ruột của cô Xuân bị điều đi học một lớp y tá ở Thái Nguyên, rồi bị đưa về Cao Bằng điều trị bệnh..thần kinh. Ít lâu sau xác cô nổi lên ở một cây cầu trên sông Bằng Giang..Cô em gái họ cũng biến mất. Như vậy là cùng một thời gian, cùng một sự việc,có tới ba người thiệt mạng.
_ Những đầu mối đều bị bịt?
_ Tất nhiên. Nhưng những lý do dẫn tới những cái chết đã bị lọt ra ngoài.
_ Về những cái chết này không có ai điều tra hết ?
Ông Tạo cúi mặt xuống
_ Không
_ Tại sao, thưa bác ?
_ Tại vì thủ phạm là một nhân vật quá to để có thể đụng tới.
_ Trần quốc Hoàn?
_Phải.- ông thở dài - Tất cả những người biết việc này đều có lửi với hương hồn cô Xuân và hai cô em, tất cả đã không dám làm gì để rửa mối hận cho họ. Tất cả đã cúi đầu trước guồng máy, trước uy tín của Đảng có thể bị mất đi vì vụ bê bối này. Mọi người đều lầm khi nghĩ như vậy ..- Vì sao Trần quốc Hoàn giết bà Xuân ?
_ Đó là một chuyện dài. Khi Bộ Nội Vụ, vì công tác bảo vệ, bố trí cho mấy chị em cô Xuân ở ngôi nhà của Bộ ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, thì chỉ có vài người biết họ là ai. Trong ngôi nhà này còn hai gia đình cấp vụ khác ở cùng. Thời gian trước khi cô Xuân bị giết ít lâu, Trần quốc Hoàn thường tới đó. Việc Trần quốc Hoàn tới thăm rồi cưỡng hiếp cô Xuân, cô em của cô Xuân biết, có nói lại cho người yêu của mình ở quê. Anh này về sau có làm đơn tố cáo gửi Trung ương.
_ Và Trung ương im lặng ?
_ Không phải anh ta gửi ngay lập tức. Ngay lập tức thì anh ta cũng bị giết ngay, mà mãi về sau này..
_ Cụ Hồ không có ý kiến gì về mấy cái chết oan khuất đó ?
Ông Nguyễn Tạo đăm chiêu suy nghĩ.
_ Có nhiều điều chúng ta không biết được - ông nói, giọng bùi ngùi - Tôi nghĩ thân phận Bác lúc ấy cũng tội nghiệp lắm. Biết nói với ai? Với Lê Duẩn chăng ? Hay Lê đức Thọ ? Hay nói thẳng với Trần quốc Hoàn ? Tôi nghĩ Bác cũng là người, Bác cũng biết đau khổ. Nhưng cái thế của Bác buộc Bác phải im lặng..
_ Nghĩa là, theo bác, ông Hồ không có lửi ?
_ Trong mấy cái chết nói trên ? Không.
_ Nhưng sự im lặng trước cái chết của họ ? Ông Hồ cũng không có lửi ? -tôi gặng - Bỏ ra ngoài mối quan hệ tình cảm, chỉ nói tới cái chết oan khuất của một con người, với tư cách đồng bào?
_ Thế hệ các anh khắc nghiệt trong sự phán xét. - ông thở dài- Tôi hiểu các anh. Các anh vô can. Chúng tôi thì không. Chúng tôi tự đặt mình trong sự ràng buộc với Đảng, với những quyết định của nó, dù sai hay đúng. Chúng tôi lo lắng cho uy tín cũa Đảng. Chúng tôi cảm thấy nhục nhã nếu Đảng bị phỉ báng. Đảng là cuộc sống tinh thần của chúng tôi, là danh dự của chúng tôi. Bác cũng vậy. Ông Cụ cũng đau đớn lắm chứ. Ông cũng là con người. Như mọi người. Các anh khác. Các anh chỉ nhìn thấy một lẽ công bằng, đòi phải có nó, đòi mọi sự phải sòng phẳng. Cái đó là phải thôi. Đúng, chứ không sai. Nhưng có nên như vậy không nhỉ? Hay là cần phải độ lượng hơn, thông cảm hơn với sự yếu đuối của con người? Dù họ là ai đi chăng nữa..
( Trích hồi ký " Đêm giữa ban ngày " trang 605-609)
Đoạn trích dẫn trên của nhà văn Vũ thư Hiên đã ghi lại lời tâm sự của ông Nguyễn Tạo về vụ án cô Xuân. Khi ông Tạo cho rằng Hồ chí Minh cũng đau đớn trong cái chết của người vợ gốc thiểu số Nông thị Xuân, như vậy ông Tạo không nghĩ rằng ông Hồ là thủ phạm mà có bàn tay bí mật giết cô Xuân. Thế lực nào đã coi thường ông Hồ để ra tay giết vợ ông? Giai đoạn này ông Hồ đã thất thế rồi sao để thế lực đen tối giết vợ ông gây cho ông phải đau khổ mà không nói nên lời ? Ông Tạo không giải thích cụ thể lý do nào gây nên sự yếu thế của ông Hồ trong vụ án mạng cô Xuân, nhưng qua cách nói ông Tạo không nghĩ ông Hồ là người chủ mưu giết cô Xuân. Dĩ nhiên Trần quốc Hoàn là thủ phạm chính nhưng Trần quốc Hoàn chỉ thi hành lệnh của một thế lực tối cao ở trên chứ với chức bộ trưởng công an, Hoàn không thể nào dám ra tay giết vợ Hồ chí Minh nếu không có một thế lực cao cấp lấn át uy quyền ông Hồ cho phép. Dù sao sự lên tiếng của nhân chứng Vũ thư Hiên cho thấy chuyện cô Xuân vợ ông Hồ bị giết là chuyện có thật và câu chuyện tàn ác thương tâm này được cha ông Hiên và ông Nguyễn Tạo kể lại cho ông Hiên nghe với những chi tiết cụ thể và hiện trường nơi vụ án mạng oan khuất xảy ra.
Vũ thư Hiên lại là người khám phá thêm một sự thật nữa về cuộc đời tình ái của ông Hồ. Trước đây Học giả Hoàng Tranh có viết một bài về người vợ Trung quốc của Hồ chí Minh là Tăng tuyết Minh và cho rằng sau khi chia tay nhau vào năm 1927 thì ông Hồ và Tăng tuyết Minh không còn gặp nhau nữa ngoại trừ một trường hợp duy nhất là Tăng tuyết Minh đến dự phiên tòa xử Hồ chí Minh tại Hồng Kông năm 1931. (Xin vào www.daiviet.org số báo 31 để đọc bài viết của Hoàng Tranh về Tăng tuyết Minh, người vợ Trung quốc của Hồ chí Minh). Nhà văn Vũ thư Hiên có trả lời một cuộc phỏng vấn sau này cho biết rằng ông có dịp nói chuyện với con trai Bác sĩ Trần duy Hưng (nguyên thị trưởng Hà nội) là Trần duy Nghĩa hiện sống ở Paris. Ông Trần duy Nghĩa tiết lộ rằng ông có dịp chứng kiến cảnh Hồ chí Minh và Tăng tuyết Minh có gặp nhau ở nhà ông Hồ ở Hà nội. Ông Nghĩa lúc ấy là một cháu nhỏ đến chơi với Bác Hồ và ông Hồ có khoe với Nghĩa một cái bọc do bà vợ Tăng tuyết Minh tự tay đan tặng cho ông. Đúng là rồi không có gì có thể che đậy mãi dưới ánh mặt trời. Những mẩu chuyện lặt vặt về ông Hồ đã được những người chung quanh chứng kiến và kể lại để người đời sau có thêm dữ kiện mà đánh giá con người thật của ông.
Sau Vũ thư Hiên, có thêm một nhân chứng quan trọng là ông Nguyễn minh Cần, hiện nay đang sống tại Mạc tư khoa, Nga. Năm 1957 khi án mạng của cô Xuân xảy ra thì ông Cần đang là " Phó chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội " .Ông được báo cáo về vụ án mạng được ngụy trang là một tai nạn để rồi sau đó bị những cơ quan liên hệ bưng bít sự thật về chuyện giết người này. Sau này ông được đọc lá thư của người hôn phu cô Vàng và đi đến kết luận chuyện án mạng về người vợ thiểu số Nông thị Xuân là chuyện có thật . Sau này ông Nguyễn minh Cần có tung ra bài viết " Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời Hồ chí Minh " để nói về những huyền thoại về ông Hồ, có huyền thoại do chính ông tạo ra như tự mình viết sách ca tụng mình ( cuốn sách " Những mẫu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ chủ tịch " với cái tên giả Trần dân Tiên.). Bài viết có đề cập đến vụ án mạng cô Xuân, sau khi kể lại chuyên mắt thấy tai nghe về vụ án cô Xuân, ông đưa ra những suy luận về thủ phạm giết cô Xuân như sau:
" .. Bây giờ xin quay trở lại câu chuyện những cô gái ở Cao Bằng. Theo những điều người ta kể cho tôi trong những năm gần đây và được xác minh qua tài liệu đã xem thì có hai chi tiết hơi khác là các cô họ Nguyễn ( trước đây có tin đồn là họ Nông ) và cô Xuân có một con với ông Hồ. Ngoài ra, các chi tiết khác về cơ bản đều giống nhau. Sự việc cụ thể như sau: Cô Nguyễn thị Xuân ( tên gọi trong gia đình là Sang) và em họ ( ruột?) là Nguyễn thị Vàng, 22 tuổi, quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cuối năm 1954, đã tình nguyện vào làm công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Được mấy tháng thì Ủy viên trung ương Đảng, chủ nhiệm Tổng cục hậu cần Trần đăng Ninh, gặp cô Xuân nói chuyện vài lần, rồi đầu năm 1955 cho xe đón cô Xuân về Hà nội, " nói là để phục vụ Bác Hồ " . Mấy tháng sau, cô Xuân cũng xin cho cô Vàng và cô Nguyệt ( con gái của ông Hoàng văn Đệ, cậu cô Xuân ) về Hà nội ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm. Vì các vị lãnh đạo không cho chị Xuân ở cùng với Bác trên nhà chủ tịch phủ, vì thế mới giao cho ông Trần quốc Hoàn, bộ trưởng bộ công an, trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về 66 Hàng Bôm Nhuộm, là nhà của công an. Cuối năm 1956, chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn tất Trung.
"Em có nhiệm vụ bế cháu ", đấy là lời Vàng kể lại cho người chồng chưa cưới của mình trước khi cô bị giết. Và cũng nhờ Vàng đã kể lại, nên chúng ta biết được những việc sau đây : Khoảng mồng 6, mồng 7 tháng 2 năm 1957, Trần quốc Hoàn đến, nói chuyện vu vơ một lúc, rồi giở trò kéo cô Xuân vào cái buồng xép, định hãm hiếp. Cô Xuân ú ớ la lên. Vàng hoảng sợ tru tréo, còn Nguyệt khiếp sợ quá co rúm lại ngồi ở trong góc. May lúc đó có tiếng cửa sổ nhà dưới xô sầm vào tường, Hoàn sợ, bỏ cô Xuân ra, rút súng lục ra dọa, " Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết " Rồi xuống thang, ra ô tô chuồn. Mấy hôm sau, Hoàn lại đến, lên gác, đi thẳng vào phòng, ôm ghì cô Xuân hôn. Cô Xuân xô nó ra và nói, " Không được hửn, tôi là vợ ông chủ tịch nước." Nó nói, " Tôi biết bà to lắm, nhưng tính mạng bà nằm trong tay tôi " Rồi lấy súng dí vào ngực cô Xuân, nó rút ra sợi day dù đã thắt sẵn thong lọng tròng vào cổ cô Xuân kéo cô lên giường, tự tay lột hết quần áo, ngắm nghía, rồi hiếp cô. Cô Xuân xấu hổ lấy tay che mặt. Nó kéo tay cô và nói, " Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già sao mà lại còn vờ làm gái. "
..Rồi sau đó là án mạng xảy ra cho cô Xuân,cô Vàng, cô Nguyệt
Những câu hỏi về Hồ chí Minh
Còn về cháu bé Nguyễn tất Trung thì sau khi mẹ chết, nó được gửi cho ông Nguyễn lương Bằng nuôi, độ 4-5 tuổi thì chuyển cho ông Chu văn Tấn, đến năm 13 tuổi là năm 1969, ngày Chủ tịch Hồ chí Minh mất thì giao về cho ông Vũ Kỳ, nguyên thư ký riêng của ông Hồ, làm con nuôi và đổi họ thành Vũ Trung. Tôi xin bỏ qua những tình tiết khác và dừng lại đây, vì đến đây, cũng đủ để có thể rút ra vài kết luận sơ bộ có liên quan đến đề tài cần nói
  1. Tôi luôn luôn nghĩ rằng không nên " xoi mói " vào đời tư của người khác, kể cả đời tư của các lãnh tụ. Việc các lãnh tụ có vợ, có con là chuyện rất thường tình. Ông Hồ, cũng như bất cứ ông lãnh tụ nào khác, cũng như bất cứ người nào khác, đều có thể có cuộc sống tình dục, cuộc sống gia đình, có thể có vợ, có con, có thể ly dị với vợ, rồi lại lấy vợ khác. Những điều đó không ai nên can thiệp đến. Thậm chí, dù cho ông lãnh tụ nào đó có vợ rồi, lại đi ngoại tình, " cặp bồ " với ai đó, như trường hợp Lênin, hay vợ sờ sờ ra đấy mà vẫn ngang nhiên ngủ với gái, hết cô này đến cô khác, như trường hợp Mao trạch Đông, hay đi hoang, rồi có con với người khác, như trường hợp Karl Marx. Những ví dụ này tôi không nói vu vơ, các sử gia và các nhà báo đứng đắn trên thế giới đã viết quá đủ, với những bằng chứng không thể chối cãi, thì cũng đáng phê phán đấy, nhưng cũng chẳng sao cả, trời không vì thế mà sập được. Chỉ có cái đầu óc ngu muội, phong kiến của cái đám lãnh đạo Cộng sản kênh kiệu, tự coi mình là " trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại " hay là " đỉnh cao trí tuệ loài người " , mới nghĩ rằng phải tô vẽ cho lãnh tụ thành một ông thánh sống, chí ít là một con người siêu phàm, không vợ không con, thì càng thêm uy tín chính trị. Thế rồi cứ giấu kín cuộc đời riêng tư của các lãnh tụ như là bí mật quốc gia số một, hễ ai động khẽ đến là trừng trị tàn nhẫn. Đấy, cái vụ vừa qua Đảng " xử trí kỷ luật " một cách thô bạo đối với Kim Hạnh, Tổng biên tập báo Tuổi trẻ, chỉ vì báo đó dám nói sơ sơ chuyện ông Hồ có vợ hồi ở Trung quốc, là một chứng minh cho cái đầu óc ngu dốt, độc đoán, lố bịch của cái đám ấy. Lẽ cố nhiên, cách xử sự của người đàn ông đối với phụ nữ, đối với vợ con phản ánh toàn bộ tư cách, phẩm chất, đạo đức của con người, và điều đáng nói, đáng xem xét .
  2. Theo tôi, các cô gái Cao Bằng, cũng như anh chồng chưa cưới của cô Vàng cùng các thương binh bạn chiến đấu của anh đều rất ngây thơ, tưởng là ông Hồ định lấy cô Xuân làm vợ thật, tưởng cô Xuân là vợ của ông Hồ thật. Khách quan mà xét, ông Hồ không muốn có vợ đàng hoàng, ông chỉ muốn giữ cái " uy tín chính trị " hão của " bậc siêu nhân " , ông chỉ muốn được " tiếng " vì dân vì nước đến nửi suốt đời không mơ tưởng đến chuyện vợ con.Và điều này nói ra chua xót thật, nhưng không thể không nói là cô Xuân chỉ là món đồ chơi trong tay ông mà thôi. Cô Xuân được đưa về Hà nội là để " phục vụ " ông Hồ, cũng như bào nhiêu cô gái Trung quốc đã được đưa đến Trung Nam Hải để " phục vụ " ông Mao. ( Xem hồi ký " Tôi là bác sĩ riêng của Mao " của Lý chí Tuy ). Mồm ông Hồ nói nào là giải phóng phụ nữ, nào là chống tư tưởng phong kiến, tôn trọng phụ nữ v..v.Thế nhưng ông đã hành xử với phụ nữ cực kỳ phong kiến, coi phụ nữ chẳng khác gì món đồ chơi. Nhận xét như thế không có tính chất võ đoán, vì thử hỏi :
    1. Nếu coi cô Xuân là vợ thật, tại sao ông lại không để cô ở chung tại ngôi nhà riêng của ông ở trong khuôn viên Chủ tịch phủ, mà bắt cô phải ở riêng mãi tận nhà số 66 Hàng Bông Nhuộm. (ai biết rõ Hà nội thì dễ dàng hình dung được khoảng cách từ Chủ tịch phủ đến nhà 66 Hàng Bông Nhuộm ), là nhà của công an, lại phải chịu dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ trưởng công an Trần quốc Hoàn và chỉ khi nào ông cần " được phục vụ " thì cho xe đón cô lên Chủ tịch phủ mà thôi ? Trong những năm đó ông Hồ chưa đến nửi thất thế tới mức phải cho Trường Chinh, Lê dức Thọ, Hoàng quốc Việt có thể can thiệp vào cuộc sống tình cảm của ông như vậy, có thể khống chế ông như vậy. Ông đường đường là lãnh tụ tối cao, là chủ tịch Đảng cơ mà.
    2. Nếu ông coi cô Xuân là vợ thật thì khi cô đẻ con trai rồi, tại sao ông vẫn để hai mẹ con ở riêng tận số 66 Hàng Bông Nhuộm và khi mẹ nó chết rồi, ông không đem con về nuôi, mà lại đưa cho người này, người khác nuôi cho đến khi thằng bé lên 13 tuổi, là năm ông qua đời, thì " người ta " cũng khó biết được là ai, Bộ chính trị hay là theo lời dặn của bố đẻ đứa bé chỉ thị chuyện nuôi đứa bé, rồi lại giao nó cho Vũ Kỳ làm con nuôi ? Và xin các bạn chú ý, Vũ Kỳøõ chắc chắn là không bao giờ dám tự ý đổi họ thằng bé thành Vũ Trung, xóa mọi dấu vết tội lửi của một ông họ Nguyễn tất nào đây. Khách quan mà nói, dường như ông Hồ không có chút tình thương yêu nào đối với đứa con đẻ của mình. Một người như vậy làm sao có thể thương yêu trẻ con người khác được ?
  3. Theo tôi, thật khó mà bác bỏ ý kiến cho rằng từ đầu đến cuối, ông Hồ cùng đám cận thần của ông, những ủy viên Trung ương, ủy viên Bộ chính trị, đã đánh lừa tệ hại cô Xuân, một cô gái quê ngây thơ ở miền núi, làm cho cô tưởng lầm ông định lấy cô làm vợ thật. Khi có con với ông rồi, cô xin cho hai mẹ con " được ra công khai " , chắc ý nói muốn hợp thức hóa, thì một mặt ông làm ra vẻ thông cảm, thừa nhận yêu cầu đó là hợp tình hợp lý, nhưng mặt khác ông lại chỉ vào các ông trong Bộ chính trị mà nói là các ông kia có quyền quyết định chứ không phải ông, phải chờ ý kiến của các ông kia, làm như ông không phải là " lãnh tụ tối cao ", không phải là Chủ tịch Đảng, làm như ông ở dưới quyền mấy ông kia trong Bộ chính trị . Rồi ông còn khuyên nhẹ nhàng , " Cô đành phải chờ một thời gian nữa " . Và thật tội nghiệp cho cô Xuân, cô đã chờ, chờ cho đến khi bị giết.
  4. Còn có nhiều điều khác mà trong tình hình hiện nay khó có thể tìm ra được lời giải đáp. Tại sao Trần quốc Hoàn lại có thể có thái độ trắng trợn, đê tiện như thế đối với cô Xuân ? Dù cô không phải là vợ chính thức thì cũng là " bồ ",( nói theo lối nói thông thường hiện nay ở Việt Nam) của lãnh tụ cơ mà. Sao y lại có thể to gan phạm thượng đến như thế ? Hay là y đã thấy rõ tình thế bị " thất sủng " của cô Xuân, tức là cái thái độ không mặn nồng nào đó của ông Hồ đối với cô Xuân, nên mới bạo phổi làm chuyện bậy bạ đến thế ? Hay là y đã biết một quyết định nào đó về cô Xuân, nên y nghĩ rằng " không xài thì phí của trời " , trước sau rồi cô cũng chết ?
Còn câu hỏi mà ông Hồ đặt ra cho cô Xuân về những người lạ mặt thường đến chử các cô phải không, có ý nghĩa gì ? Có đúng là do Bộ trưởng công an mớm cho ông hay không? Việc giết cô Xuân, cô Vàng, cô Nguyệt là mưu đồ của cá nhân Trần quốc Hoàn, hay là chủ trương của một tập thể, nếu là của một tập thể thì tập thể nào, và ông Hồ có được biết hay không? Trách nhiệm của ông Hồ, của Bộ chính trị Trung ương Đảng, của Bộ công an, của Trần quốc Hoàn trong việc này như thế nào ? Khoảng thời gian từ khi cháu Trung được sinh ra( cuối năm 1956) đến ngày Hoàn tới dở trò hãm hiếp mẹ nó ( vào ngày mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957) vì sao lại gần nhau đến thế ? Điều đó có ý nghĩa gì? Vân vân và vân vân. Hy vọng là rồi đây, các nhà thám tử tài giỏi nhất, các chuyên gia về tội phạm có thể góp ý, góp sức, giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề.
Hồ chí Minh là một nhân vật lịch sử đã có ảnh hưởng rất lớn đối với vận mệnh đất nước và nhân dân Việt Nam trong nhiều thập niên của thế kỷ 20. Dù muốn dù không, không ai có thể phủ nhận điều đó. Nhưng, ảnh hưởng đó là tốt hay xấu , hay vừa tốt vừa xấu, tốt nhiều xấu ít, hay ngược lại ? Công trạng của ông thế nào, tội lửi của ông ra sao, chỉ có công không có tội, hay chỉ có tội không có công, hay vừa công vừa tội ? Ông là vị thánh nhân, là bậc siêu nhân, hay là kẻ phàm phu, hay là tên giả dối, bịp bợm ? Ông là biểu tượng của đạo đức với trái tim nhân ái, hay và một kẻ vô luân, vô đạo với lòng dạ bất lương ? Tất cả những câu hỏi đó đòi hỏi một sự nghiên cứu khách quan, cẩn trọng, sâu sắc, tỉ mỉ, toàn diện, và cuối cùng phải chờ lịch sử cân lượng, phán xét. Lịch sử được đúc kết từ muôn ngàn sự kiện chân thật. Nhận thức sâu sắc điều đó, người viết bài này không mảy may có tham vọng đánh giá cuộc đời của vị chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. YÙ muốn nhỏ nhoi đã được nó ngay từ đầu, chỉ là để góp thêm vài " mẩu chuyện " , qua đó người đọc có thể thấy thêm được vài nét chân thật trên bức chân dung hoành tráng, đồ sộ của ông mà giới cầm quyền Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay đã dày công tô vẽ.
.. Nhưng, vì chân lý, lẽ nào chúng ta có quyền chôn vùi, hoặc để cho ai đó được phép chôn vùi sự thật? Trái lại, bằng tất cả giá nào, phải tìm mọi cách để trả về cho lịch sử những sự kiện chân thật, khách quan, không bị tô vẽ, không bị bóp méo, để mọi điều, mọi người đều được đánh giá đúng dắn và công bằng. Công lý đòi hỏi như thế . "
Cùng một sự kiện vụ án chuyện cô Xuân bị giết nhưng có hai cách giải thích khác nhau. Ông bạn Nguyễn Tạo bạn của bố nhà văn Vũ thư Hiên nghĩ rằng ông Hồ cũng đau đớn trong cái chết của người vợ thiểu số tên Xuân của ông, nghĩa là ông Tạo không nghĩ ông Hồ đã ra tay giết vợ, trong khi ông Nguyễn minh Cần đưa ra suy luận rằng chính ông Hồ là thủ phạm trong vụ giết cô Xuân. Thật ra nếu không có chuyện ông Hồ bị thất sủng và bị tước quyền lực như sau này được biết thì sự suy luận của ông Cần coi như đúng hoàn toàn nhưng chuyện ông Hồ bị thất sủng và mất quyền lực là chuyện có thật nên sự suy luận của ông Cần cho rằng Hồ chí Minh là thủ phạm giết cô Xuân cũng không hoàn toàn chính xác và có tính thuyết phục cao. Có điều là cho tới giờ phút này, người ta không biết ông Hồ bị thất sủng từ năm nào, ông bị mất quyền lực trước hay sau cái chết của cô Xuân ? Có thể những người lấn quyền ông Hồ đã cho giết cô Xuân để tạo cho ông Hồ một biểu tượng đẹp đẽ hầu có lợi cho công cuộc đấu tranh. Ông Hồ đứng thế thất thế nên đành đau khổ trong im lặng ngồi nhìn người khác thủ tiêu vợ mình một cách tàn bạo. Dù sao đây cũng chỉ là một cách suy đoán. Hy vọng rồi đây sẽ có thêm nhiều nhân chứng lên tiếng thì người ta mới biết chắc chắn là ông Hồ có là thủ phạm hay không trong chuyện giết người vợ tên Xuân ? Trần quốc Hoàn chỉ là kẻ thừa hành lệnh giết mà thôi. Có lẽ ở trong nước Lữ Phương cũng nghe vụ án mạng cô Xuân qua sách báo hải ngoại. Nay xin nói rõ chi tiết về vụ này để có thể có một thông tin đầy đủ về vụ án tàn bạo,ghê tởm này. Có thể suy luận dứt khoát về thủ phạm vụ án cô Xuân như sau: Nếu lúc giết cô Xuân mà ông Hồ còn giữ nguyên quyền lực và không bị thất sủng thì chắc chắn ông là người đã ra lệnh cho Trần quốc Hoàn giết cô Xuân để tạo hào quang cuộc đời hy sinh vì nước vì non nên không lập gia đình của ông; nếu lúc cô Xuân bị giết mà ông Hồ đã bị tước mất quyền lực và bị cho ra rìa thì thủ phạm giết cô Xuân chưa chắc là ông mà là do nhóm đang có quyền lực ra tay và ông Hồ phải đau buồn vì cái chết của người vợ thiểu số này mà không dám hó hé gì cả vì thân phận bị thất sủng mất quyền lực của ông.
Với cách giết người và giết nhân chứng tàn bạo bỉ ổi như thế, Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam đã có một cung cách sát thủ tàn bạo, dã man rất giống bọn băng đảng xã hội đen Mafia chứ một nhà nước dân chủ cộng hòa không bao giờ có một cách hành xử giết người mờ ám và ti tiện như thế.
Lữ Phương đã ghi nhận rất đúng sự đấu đá để tranh giành quyền lực trong Đảng. Phe Lê Duẩn, Lê đức Thọ hoàn toàn khống chế phe Hồ chí Minh, Võ nguyên Giáp. Lữ Phương đưa ra bằng chứng cụ thể là Hồ chí Minh bị tống cổ qua Bắc Kinh cùng chung với người thư ký hầu cận Vũ Kỳ trong cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân. Ông Hồ tham gia đóng góp trận tấn công này bằng một bài thơ rồi cho qua Bắc kinh ..nghỉ. ( Bài thơ đó là " Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Năm Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên, toàn thắng ắt về ta"). Cũng xin nhắc thêm với Lữ Phương là Đại tướng Bộ trưởng quốc phòng Võ nguyên Giáp cũng bị tống cổ qua Hungary " gọi là chữa bệnh " từ năm 1967. Ở miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa vào thập niên 1960, Tướng Nguyễn chánh Thi khi bị đẩy ra khỏi nước cũng được loan tin là ông được đưa đi Mỹ chữa bệnh " thối mũi". Cho nên chuyện loan tin một người có bệnh để đẩy ra khỏi nước thì đó là một lối nói ngoại giao thế thôi. Tướng Giáp chẳng có bệnh gì mà phải đi Hunggary chữa bệnh. Ông cũng giống như Hồ, bị tống cổ ra khỏi nước cho khuất mắt những người đang cầm quyền lực không muốn thấy sự hiện diện của hai ông trước trận đánh lớn Mậu Thân. Duẩn và Thọ phải tống cổ Hồ và Giáp đi xa để giành công đánh Mậu Thân nếu thành công. Hồ là chủ tịch nước và Đảng, Giáp là bộ trưởng quốc phòng và là cha đẻ của quân đội nhân dân Việt Nam, thế mà một trận đánh cực kỳ lớn như trận Mậu Thân 1968 mà Hồ và Giáp không được ngồi ở nhà để điều binh khiển tướng thì cái lý luận cho rằng phe Duẩn, Thọ đã khống chế và tước hết uy quyền của phe Hồ, Giáp quả là quá đúng và không ai còn nghi ngờ gì nữa về điều này. Lý do Hồ và Giáp bị thất sủng cũng chưa ai giải thích được cho rốt ráo. Sau này người ta căn cứ vào di chúc của Hồ viết ngày 14 tháng 8 năm 1969 cho biết sở dĩ Hồ bị mất uy quyền là do Hồ tìm cách liên lạc để hòa hợp, hòa giải với ông Diệm vào xuân 1963 và do đó mà bị cô lập và tước quyền lực. Hy vọng rồi sau này sẽ có thêm nhiều dữ kiện đưa ra và nhiều nhân chứng lên tiếng thì người ta mới biết được nguyên nhân bị thất sủng của Giáp và Hồ.
Hoàng văn Hoan trong hồi ký " Giọt nước trong biển cả " còn kể thêm chuyện phe Lê Duẩn đã sát hại Đại tướng Nguyễn chí Thanh khi ông Thanh từ chiến trường miền Nam ra Hà nội họp vào năm 1967 . Ông Hoan kể rõ chuyện này như sau
" Là vì trong vụ anh Nguyễn chí Thanh bị ám hại, Nguyễn văn Vịnh là người được biết tất cả mọi chi tiết, nếu xử lý Nguyễn văn Vịnh đúng theo kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước thì Nguyễn văn Vịnh sẽ bươi ra hết cả, như vậy bộ mặt của bọn Lê Duẩn sẽ bị bóc trần, tội ác của bọn Lê Duẩn sẽ phơi bày trước Đảng và trước dư luận nhân dân.
( Trích hồi ký " Giọt nước trong biển cả " của Hoàng văn Hoan , trang 420)
Nói chung thì các đồng chí trong Đảng Cộng sản của Hồ đều ăn ở với nhau theo tinh thần " lừa thầy phản bạn "cả, nên chuyện đấu đá giết nhau cũng là chuyện tất yếu và thường tình thôi.
Lữ Phương có kể chuyện một người Pháp nghiên cứu về Việt Nam là ông Hémery có tìm ra một tờ đơn của Hồ chí Minh đề ngày 15 tháng 9 năm 1911 ở Marseille - ký là Paul Tất Thành gửi chính phủ Pháp xin vào học trường Ecole coloniale ( một trường đào tạo công chức cho thuộc địa). Đây là một tài liệu mà các giới chức Hà nội tìm cách dấu kín vì mấy mươi năm nay họ đã tuyên truyền là Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, thế mà tới đất Pháp Bác nộp đơn vào học trường thuộc địa thì giải thích làm sao bây giờ ! Lữ Phương nhận định rất có lý rằng cho dù có chuyện viết đơn này xảy ra thì chẳng hề hạ thấp tình cảm yêu nước của ông Hồ, nhưng tất nhiên, như vậy sẽ rất khó để tạo ra cáo chủ ý lý tưởng hóa cuộc đời của ông từ nhỏ cho đến lớn. Thế nhưng trong cuốn sách mới xuất bản năm 2002 tại Việt Nam nhan đề " Từ Nguyễn ái Quốc đến Hồ chí Minh " , Lữ Phương đã thay đổi giọng điệu và bênh vực cho Hồ chí Minh, Lữõ Phương nói rằng bức thứ ấy là do những người chung quanh Hồ như Nguyễn thế Truyền xúi Hồ viết. Mục đích Lữ Phương tìm cách giải thích như thế là để chạy tội cho Hồ. Ô hay! Chuyện gì đẹp đẽ thì cho là chính Hồ làm, chuyện gì không đẹp thì bảo là Hồ bị người khác xúi ! Xem ra cái lý luận bênh vực cho Hồ của Lữ Phương không công bằng chút nào. Phải nhớ năm Hồ rời nước ra nước ngoài là năm 1911, Hồ sinh năm 1890, như vậy khi rời nước Hồ đã 21 tuổi. Một người 21 tuổi là một người đã có sự suy nghĩ chín chắn độc lập, không thể nói hành động của người ấy là bị người này xúi, người kia dụ được. Hầu hết những nước trên thế giới đều cho phép công dân 18 tuổi là có quyền lập gia đình và đi bỏ phiếu vì khi tới 18 tuổi, con người được coi như đủ khôn ngoan và có những suy nghĩ độc lập để quyết định mọi chuyện. Chẳng qua vì muốn bênh Hồ mà Lữ Phương nói người khác xúi Hồ viết lá thư không đẹp kia. Xem ra Lữ Phương còn thiếu cái tinh thần lạnh lùng và vô tư của người viết sử vì còn để tình cảm lấn át lý trí trong chuyện biên soạn sách của mình.
Lữ Phương có nói chuyện ông Hồ đến với chủ nghĩa Mác-Lênin với cái tâm chứ không với cái trí. Ông Hồ bị thúc đẩy bởi vấn đề bức xúc của đất nước là độc lập, và nhận thấy sự hứa hẹn của Đệ tam Quốc tế là rõ rệt và triệt để nên cuồng nhiệt trở thành người tín đồ cuồng tín. Nhưng Lữ Phương cho rằng đây là một sự lựa chọn bất toàn : nó có thể giành được độc lập cho dân tộc qua các hình thức đấu tranh bạo lực của chiến tranh nhưng đã thất bại toàn diện trong công cuộc xây dựng khi thời bình. Lữ Phương cho ông Hồ chỉ biết đến chức năng giải phóng của chủ nghĩa Mác nhưng không hiểu đến triết học sâu sa của chủ nghĩa này, như vấn đề thặng dư giá trị, lao động tha hóa, hạ tầng cơ sở, thượng tầng kiến trúc v..v. Phải nói ông Hồ say mê đến độ mù quáng khi đến với chủ nghĩa Mác - Lê. Trong một bài viết ông có lần cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê là cái cẩm nang thần kỳ mà bất cứ lúc nào cảm thấy bế tắc trong đấu tranh và xây dựng thì cứ lấy cái cẩm nang thần kỳ này ra mà coi thì sẽ giải quyết được ngay vấn đề. Ông lại đồng hóa lòng yêu chủ nghĩa với lòng yêu nước qua câu khẩu hiệu nổi tiếng của ông : Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội. Thật ra sự phê phán của Lữ Phương là đúng nhưng phải nhìn vào trình độ văn hóa thấp kém của ông Hồ lúc ông đến chủ nghĩa Mác- Lê, lúc đó ông học trung học dang dở, sang ngoại quốc bằng cách làm bồi tàu. Ông có cái khôn lanh, láu lỉnh của một người sành đời nhưng không có đủ kiến thức văn hóa để phân biệt sự đúng sai của một chủ nghĩa phức tạp như chủ nghĩa Mác nên sự hiểu biết ông về chủ nghĩa này nói chung là hời hợt. Ông coi chủ nghĩa này như một thứ " khuôn vàng thước ngọc " để dẫn toàn dân đi theo. Ông dùng cái bè Mác - Lê để vượt qua con sông đấu tranh để đến bờ độc lập. Nhưng khi được độc lập rồi, ông không đủ sáng suốt để quăng cái bè Mác - Lê đi mà đội nó trên đầu, dùng nó làm kim chỉ nam trong chuyện xây dựng đất nước. Và cái bè này trở thành cái vòng kim cô ý thức hệ đè nén sự phát triển đất nước. Ông chưa đủ can đảm quăng cái bè đi khi sang sông. Điều đáng buồn là những người học trò đàn em kế tục sự nghiệp cách mạng của ông cũng không sáng suốt gì hơn ông. Cho nên tới giờ này vẫn rêu rao một cách khá vô duyên là " Làm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa " . Định hướng xã hội chủ nghĩa chính là cái bè ý thức hệ mà đám lãnh đạo Đảng hôm nay chưa gỡ bỏ ra được. Đất nước Việt Nam vẫn còn trì trệ trong chuyện phát triển là vì như thế đấy. Đến giờ này thì ai cũng thấy rằng chủ nghĩa Mác - Lê là vũ khí hiệu nghiệm trong chuyện lật đổ và cướp chính quyền nhưng lại bất lực trong chuyện phát triển đất nước như Lữ Phương đã nhận định trong bài viết trên. Có những người lãnh đạo trong nước thấy rõ điều đó như ông Trần xuân Bách và muốn phát triển hệ thống đa đảng, đa nguyên để dẹp trừ chuyện độc quyền cai trị nhưng ông Bách lại đứng vào thế thiểu số, không đập vỡ được cái tâm thức quán tính ù lỳ của đa số trong lãnh đạo Đảng. Bản thân ông Bách cuối cùng bị đuổi ra khỏi Đảng vì cổ súy tư tưởng " phản động " này. Thành ra Đảng vẫn chưa cởi bỏ được ý thức hệ Mác-Lê để xây dựng đất nước. Vì còn giữ hệ thống độc đảng chuyên chính là tạo môi trường cho tham nhũng trở thành quốc nạn và sớm muộn gì cũng góp phần làm sụp đổ bộ máy nhà nước cồng kềnh, không hữu hiệu trong chuyện điều hành đất nước. Liên xô trước đây cũng tự sụp đổ vì bộ máy nhà nước cồng kềnh, không hữu hiệu chứ chẳng có ai đánh đổ cả. Liên xô hôm nay là Việt Nam ngày mai, câu khẩu hiệu này phải nhận là có tính tiên tri chính xác vô cùng.
Lữ Phương chỉ ra những khuyết điểm của chế độ Mác - Lênin do ông Hồ chọn lựa đã bộc lộ ra trong thời bình như đấu tố, cải cách ruộng đất đã phá hoại đến tận cùng nền tảng đạo lý dân tộc, cái cảnh con chửi cha, vợ tố chồng, họ hàng tố khổ nhau trong cải cách ruộng đấtõ là một thứ " đạo đức cách mạng " thời đại Hồ chí Minh. Đó là một vết nhơ và vết nhơ này sẽ không bao giờ rửa sạch được. Chuyện chỉnh huấn đã bơm máu đen vào cơ thể Đảng; trấn áp chà đạp văn nghệ sĩ từ vụ Nhân văn - Giai phẩm trở về sau đã là một sự phản bội về tự do văn hóa. Lữ phương cho cái khẩu hiệu chế độ Cộng sản " dân chủ gấp triệu lần tư sản " là một điều khoác lác vì chế độ này đã đè đầu cưỡi cổ nhân dân một cách thô bỉ và thản nhiên dưới chiêu bài " chuyên chính vô sản " ; và đã làm mất động lực phát triển kinh tế vì chủ trương quốc doanh hóa toàn bộ sản xuất. Khi nhà nước nắm toàn bộ sản xuất như thế thì xảy ra cái tình trạng " cha chung không ai khóc " để rồi đưa đến tình trạng vô trách nhiệm trong sản xuất và cuối cùng đã gây ra sự lụn bại trong sản xuất, nghèo nàn về kinh tế.
Quan sát những năm gần đây, trước tình trạng suy thoái về mọi mặt của xã hội, nhà cầm quyền tìm cách đề cao " tư tưởng Hồ chí Minh " như là một cái bùa để hàn gắn mọi sai trái, đổ vỡ. Nhưng như Lữ Phương có chỉ ra trong bài viết là chính bản thân Hồ chí Minh xác nhận ông không có tư tưởng gì cả. Mọi tư tưởng đều có Lênin và Mao trạch Đông nói ra hết rồi. Những đệ tử sau này của ông đã gán cho ông những điều ông không có, chẳng qua họ muốn dùng hào quang của ông để lấp liếm những sai lầm tệ hại của bộ máy nhà nước trong công cuộc xây dựng đất nước hiện tại. Ông viết di chúc để lại yêu cầu được " hỏa táng " sau khi qua đời mà đám đàn em hậu duệ có nghe lời ông đâu, chúng xây lăng dựng mả cho ông để dùng thân xác ông như một biểu tượng có lợi cho sự nghiệp cách mạng của chúng, chúng chỉ dùng ông như một thứ bung xung không hơn không kém. Về điểm này thì phải nói là Hồ chí Minh giống vua Bảo Đại, bị người khác dùng uy tín của mình để sử dụng cho những chuyện riêng. Thực dân Pháp dùng Bảo Đại như một loại bù nhìn thì Đảng Cộng sản cũng sử dụng uy tín, tên tuổi Hồ chí Minh như một hình tượng không hơn không kém vào lúc ông còn sống và ngay cả khi ông đã qua đời. Thực tế đã cho thấy rằng chủ nghĩa Mác không giải quyết được bài toán dân chủ và xây dựng trong thời đại ngày nay. Chuyện Đảng Cộng sản cố gắng thổi phồng tên tuổi cùng tư tưởng Hồ chí Minh chỉ là một trò phù thủy gọi hồn âm binh để rồi không mang lại kết quả gì trước sự chán chường mệt mỏi của nhân tâm.
Lữ phương phê phán Hồ chí Minh là một người yêu nước, nhưng là một người yêu nước theo phương thức của Lênin, một người đã có đem lại cho đất nước sự tự chủ và thống nhất nhưng cũng lại là một người đã cho du nhập vào đất nước một học thuyết ngoại lai mà tác hại của nó còn kéo dài cho đến ngày nay chưa gỡ bỏ ra được. Vâng thưa ông Lữ Phương, người Việt Nam sẽ cởi bỏ gông xiềng Mác - Lê nếu đồng tâm cùng đứng dậy với những nhà đấu tranh cho dân chủ để lật đổ chế độ bán nước hại dân này.
Ngục sĩ Nguyễn chí Thiện đã có mấy câu thơ khá hay để phê phán sự tệ hại của chũ nghĩa Mác như sau:
" .. Học thuyết Mác, một linh hồn u ám
Không gốc rễ gì trên mảnh đất ông cha
Mấy chục năm phá nước,phá nhà
Đã tới lúc lũ tông đồ phải lôi ra pháp trường tất cả
... ( Trích từ bài trường thi "Đồng lầy" (1972) )
Mặc dù phê phán mạnh mẽ những sai lầm của Hồ chí Minh nhưng đoạn cuối bài viết Lữ Phương vẫn xưng tụng Hồ chí Minh là một anh hùng và Lữ Phương khuyên không nên cột chặt vận mệnh đất nước vào chọn lựa bất toàn của người anh hùng đó. Thật ra chữ anh hùng có ý nghĩa cao đẹp hơn nhiều. Người anh hùng ngoài chuyện tài cao còn phải có đức hạnh, có lòng yêu thương nhân dân sâu sắc. Chuyện Hồ chí Minh nghe lời hai quan thầy Nga và Tàu để tiến hành cuộc cải cách ruộng đất giết hại dân lành Việt vô tội thì không thể gọi Hồ chí Minh là người anh hùng được. Chữ anh hùng nên dùng để chỉ những vĩ nhân tài đức vẹn toàn của đất nước như Ngô Quyền, Trần hưng Đạo, Quang Trung thì hơn. Có thể đánh giá Hồ chí Minh như một gian hùng cỡ Tào Tháo, một người tuy có tài mà không có đức chứ không thể dùng chữ " anh hùng " để xưng tụng Hồ chí Minh như Lữ Phương xưng tụng được.
Lữ Phương cho rằng thời trai trẻ ông quý trọng Hồ chí Minh vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của ông, nhưng nay khi tóc đã bạc rồi thì Lữ Phương không thể mù quáng tin vào Hồ chí Minh được nữa vì những lửi lầm do chủ nghĩa Mác mà Hồ chí Minh du nhập vào Việt Nam đã nẩy sinh ra trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Hồ chí Minh muốn đưa dân Việt lên thiên đàng nhưng thực tế phũ phàng cho thấy ông đã đẩy con cháu Lạc Hồng đang ở dưới chín tầng dịa ngục. Cái di sản độc hại do ông để lại cho đời sau không biết đến bao giờ mới rửa sạch hết được.
Một cuộc kháng chiến mới đã, đang và sẽ xảy ra để phá vỡ tan tành cái ngục mang nhãn Mác - Lê nặng nề, đầy đọa đó để tháo cũi sổ lồng cho 80 triệu dân Việt đau thương bất hạnh hầu có thể xây dựng một nước Việt Nam tự do và phú cường thật sự.

Lawndale, một chiều nóng hâm hấp, bức bối giữa tháng 9 năm 2004
TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG
 http://xoathantuong2.tripod.com/tvdh/tvdh_hcmlp.htm





Góp Ý Với Sử Gia William J. DUIKER
Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh

Trần Viết Ðại Hưng
 

(Cập nhật hóa ngày 13/03/2004; Sửa chữa lần chót ngày 14/03/04)
Cách đây không lâu, giới nghiên cứu lịch sử hải ngoại có dịp đón chào một cuốn sách nghiên cứu về Hồ chí Minh của Học giả William J. Duiker. Học giả Duiker dã bỏ ra trên 20 năm trời, đi khắp các thư khố Pháp, Liên Xô và Việt Nam để tìm tòi những tài liệu liên quan đến Hồ chí Minh và từ đó vẽ lại chân dung Hồ chí Minh từ khi sinh ra đời cho đến khi qua đời. Cuốn sách được nhiều học giả nghiên cứu về Việt Nam hết lời khen tặng. Nhà báo Stanley Karnow cho rằng đã có nhiều cuốn sách viết về Hồ chí Minh nhưng chưa có cuốn nào có thể so sánh với cuốn sách viết về Hồ chí Minh của ông Duiker. Ông Duiker đã tìm tòi nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ càng, nhận định sâu sắc và đọc nhiều nguồn tài liệu nên đã cuối cùng đã " giải mật " được một nhân vật được coi là độc đáo, bí ẩn gây nhiều tranh luận và ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20. Học giả Douglas Pike cho rằng, " Qua nhiều thập niên quả có một âm mưu ngăn chặn không cho chúng ta biết được sự thật chủ yếu của con người Hồ chí minh. Sự thật Hồ là một con người dễ ngưỡng mộ và là một người dễ ghét. Trong thời gian ông còn sống, ông cũng không giúp cho thế giới hiểu ông nhiều hơn vì ông muốn đóng một vai trò là người muôn mặt nên tạo hỏa mù cản trở những cố gắng của thế giới bên ngoài muốn tìm hiểu ông. Chuyện bạch hóa mọi sự thật không phải là một việc làm dễ dàng gì, nhưng học giả Willian J. Duiker đã làm được chuyện đó. Ông ta đã cung cấp đủ thông tin cho chúng ta để chúng ta tự quyết định chứ ông cẩn thận tránh lối kết luận giáo điều cứng ngắt mà nhiều người thường làm. Ðây là một cuốn tiểu sử đầy tư liệu thông tin, có căn cứ đích xác và thẩm quyền, một loại hồi ký nghiêm túc." Nhà nghiên cứu Frances Fitzgerald nhận định ông Hồ là một nhà nhân bản Khổng giáo và là một nhà cách mạng Cộng sản, ông là kiến trúc sư của nền độc lập Việt Nam, đã tiến hành cuộc chiến đấu chống lại Pháp, Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Hồ chí Minh quả là một nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhiều nhất trong thế kỷ 20. Nhưng dù sau cái chết của ông năm 1969 - cùng trong những năm có quân đội Mỹ chiến đấu ở Việt Nam - ông vẫn giữ hình ảnh là cái bóng mờ, cuộc đời và nghề nghiệp của ông bao quanh bởi huyền thoại và đội lốt vô số vai trò mà ông phải đóng trong những năm lưu đày và trong đời du kích ở Việt Nam. Nhà báo Pháp Jean Lacouture viết như sau trong hồi ký xuất bản năm 1967 như sau, " Những gì chúng ta biết về ông Hồ trước năm 1941 đều là những mảnh rời rạc, gây nhiều tranh cãi và gần đúng thế thôi." Nhà nghiên cứu Frances Fitzgerald cám ơn ông Duiker bởi vì nhờ cuốn biên khảo tiểu sử Hồ chí Minh của ông, cuộc đời Hồ không còn tối tăm như trước mà đã tương đối sáng tỏ.
Duiker là một giáo sư đại học môn Sử đã về hưu, trước đây ông từng là viên chức phục vụ tại Tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài Gòn vào giữa thập niên 1960. Ðể biên soạn cuốn sách về Hồ chí Minh, Duiker đã bỏ ra trên 20 năm thu thập tin tức mới từ những cuộc phỏng vấn và từ những văn khố ở Việt Nam, Trung Hoa, và Mỹ. Trước đây đã có những sử gia Tây phương nghiên cứu về Hồ như một con người và xem xét ảnh hưởng bối cảnh văn hóa của cuộc cách mạng do Hồ tiến hành, nhưng Duiker mới là người không những ghép lại những khoảng trống trong đời Hồ mà còn cung cấp những dữ kiện về Hồ như là một nhà ngoại giao và chiến lược gia.
Cuộc chiến tranh Việt Nam là một biến cố trọng đại trong lịch sử Hoa kỳ vào thế kỷ 20. Nhưng cuốn sách hồi ký về cuộc đời Hồ chí Minh của Duiker đã nhắc nhở chúng ta là vấn đề lớn cho người Việt Nam, cũng như cho những người khác trên hành tinh này, là phản ứng ra sao đối với sức mạnh thực dân và sự phá hủy của xã hội truyền thống. Hồ chí Minh đã dâng trọn đời mình cho nhiệm vụ ấy.
Thời niên thiếu của Hồ diễn ra trong một thế giới loạn lạc và xáo trộn. Ông sinh năm 1890, chỉ 5 năm sau khi người Pháp thiết lập sự kiểm soát cai trị trên toàn cõi nước Việt Nam một cách vững chắc. Ông sinh ở vùng Nghệ An, một vùng núi non đẹp đẽ nhưng nhỏ hẹp và hiểm trở. Ðây là một trong những vùng đẹp nhất nước nhưng nó cũng là vùng nghèo khổ và có truyền thống cách mạng nổi dậy nhiều nhất. Cha của Hồ là một viên quan lại, đã dạy cho Hồ tiếng Hán và nhiệm vụ của một kẻ sĩ trong đạo Khổng. Theo Duiker, thân sinh ông Hồ là cụ Sắc có quen biết lâu năm với những người khoa bảng học rộng như Phan bội Châu và Phan chu Trinh, đó là những nhà tranh đấu quốc gia quan trọng nhất trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20. Ông Duiker cho rằng cha Hồ bất mãn với quan triều và từ đó quyết định nghỉ việc nhưng các tài liệu sau này cho thấy cha Hồ bị cho nghỉ việc vì say rượu đánh chết người. Hồ được cha gửi vào trường Quốc Học ở Huế với ước mong là Hồ sẽ theo gương quân sư Nguyễn Trãi thời thế kỷ 15, nghĩa là học hỏi để hiểu kẻ thù thì mới đánh bại kẻ thù được.
Khi Hồ và học trường danh tiếng Quốc Học năm 1907, ông đã là một người có khuynh hướng nổi dậy. Có lời kể ông bị đuổi ra khỏi trường vì đã ủng hộ nhân dân xuống đường biểu tình chống lại thuế nông nghiệp cao và lao động khổ sai. Lại có dư luận giải thích rằng vì cha ông bị đuổi việc nên ông phải rời trường Quốc Học. Ông đi về phía Nam, làm đủ thứ nghề lặt vặt để sống qua ngày.
Năm 1911, ông vào làm bồi bếp trên một chiếc tàu thủy dự định sẽ đi tới Pháp với cái tên là " Ba ", đây là biệt danh đầu tiên của ông trong số 50 biệt danh ông lấy sau đó trong quãng đời làm cách mạng. Ông tâm sự về sau với một nhà báo Liên xô là, " Tôi muốn trở nên quen biết với nền văn hóa Pháp để xem thực tế có giống như những lời hoa mỹ trên sách báo không "
Hồ đi khắp các hải cảng từ Á châu sang Phi châu, ghé New York và London. Ông có ở lại New York một thời gian, làm nghề lao động và có sinh hoạt với Hội Quốc Tế cải tiến sự tin tưởng cho người da đen của Marcus Garvey ở khu Harlem.
Tại London, ông làm bếp phụ cho ông đầu bếp Auguste Escoffier tại khách sạn Carlton. Tới cuối thế chiến thứ nhất ông định cư ở Paris, nơi được coi là trái tim của đế quốc Pháp. Trong khi làm nghề sửa ảnh, ông lập ra Hội Người Việt lưu vong, lên án sự đối xử tàn bạo của thực dân Pháp ở thuộc địa trong những buổi họp của Ðảng Xã Hội Pháp. Năm 1919 ông đưa một kiến nghị lên những chính phủ Ðồng Minh tại hội nghị Versailles, yêu cầu họ thi hành quyền dân tộc tự quyết cho Việt Nam mà Tổng Thống Mỹ Woodrow Wilson đề ra. Chỉ có cảnh sát Pháp là lưu ý đến bản kiến nghị và tác giả của nó là Nguyễn ái Quốc! Họ theo dõi Hồ khắp mọi nơi dù Hồ chỉ là một thanh niên yếu đuối, nghèo khổ giống như anh hề Chaplin trên màn bạc.
Duiker căn cứ nhiều vào những nguồn tin tình báo, phần lớn của Pháp, Anh, Trung Hoa và từ những điệp viên trong Quốc Tế Cộng Sản, dĩ nhiên là nhiều tin tức hơn là là từ FBI hay CIA. Từ những tài liệu ấy, Duiker đã tìm ra những chi tiết phong phú. Một gương mặt xuất hiện từ đống tài liệu ấy là Nguyễn ái Quốc, đây là biệt danh mà ông Hồ dùng trong 25 năm trời ,đi qua các lục địa, xây dựng liên minh, khắc chế kẻ thù và dần xây dựng nên một đảng để làm cho giấc mơ của ông được thành sự thật, ông là một nhân vật có hàng trăm biệt danh bị hàng ngàn cảnh sát ngày đêm dòm ngó và săn đuổi.
Hồ lần đầu tiên nhắm tới viễn tượng một nước Việt Nam độc lập là vào năm 1919 tại Versailles, khi ông cầu khẩn những cấp lãnh đạo đồng minh phải thi hành lời kêu gọi của Woodrow Wilson nhắm tới chuyện làm sao cho xứ Ðông Dương của người Pháp được có quyền tự quyết ( self - determination ). Lúc ấy ông mới có 28 tuổi. Ông là con một viên quan tri huyện tên Nguyễn sinh Huy. Thật ra anh thanh niên Nguyễn tất Thành lên tàu sang Pháp năm 1911 không phải là để tìm đường cứu nước mà bởi vì bố anh, đầu năm 1910 bị một án kỷ luật nặng, mất chức tri huyện Bình Khê, bị hạ bốn cấp trong ngạch quan lại, bị đuổi ra khỏi giai cấp quan lại vì cái tội say rượu, đánh chết một nông dân tên Tạ đức Quang. Ông huyện Huy từ đó mất nguồn sinh sống, phải lang thang làm nghề thầy lang bốc thuốc khá mất thể diện, nên ông không bao giờ trở về Huế và về làng Kim Liên ( Nghệ An) nữa. Anh Thành đang học trung học, đành phải bỏ học tìm đường tự cứu mình và cứu gia đình. Anh làm bồi bếp tàu thủy, làm bánh ngọt ở Luân Ðôn, viết thư xin vào trường học Trường Thuộc Ðịa, gửi đơn xin viên khâm sứ Trung Kỳ để mong ông này rủ lòng thương mà cho bố anh đi làm lại, dù làm huấn đạo hay làm biện cũng được. Phải tới 7, 8 năm sau ở Pháp, sống bằng nghề rửa ảnh, tiếp xúc với một số người Việt như các ông Phan văn Trường, Phan chu Trinh, Nguyễn thế Truyền thì anh Nguyễn tất Thành mới dấn thân đi làm chính trị. Ở Paris, anh bắt đầu thăm dò dư luận quần chúng về những tội ác do thực dân Pháp gây ra ở Việt Nam. Anh tham gia Ðảng Xã Hội Pháp và có cảm tình nhiều với đảng này và sau đó trở thành đảng viên sáng lập Ðảng Cộng sản Pháp.
Versailles là nơi đầu tiên mà Hồ nử lực thuyết phục những chế độ dân chủ Tây phương tôn trọng những tự do mà họ theo đuổi. Nhưng " những quyền thiêng liêng để quyết định số phận của riêng mình " ( chữ của ông Hồ năm 1919) đã không được áp dụng cho những người ở các nước nô lệ ở lúc đó và cũng không áp dụng cho đến cuối thế chiến 2, khi mà những lời hứa hẹn tương tự của Tổng thống Franklin Roosevelt được đưa ra.
Ông Duiker hình như đã không chú ý nhiều đến giai đoạn ông Hồ ở Trung Hoa, nơi mà Hồ đã sống phần lớn thời gian trong thập niên 20, 30 và 40. Hồ làm việc với Mikhai Borodin, vốn là người buôn vũ khí của Stalin bán cho Tưởng giới Thạch. Trong thời gian này Hồ đóng vai một thương gia người Hoa mang tên Ling. Năm 1945 tại Côn Minh, là Tổng hành dinh của Không đoàn số 14 của Mỹ, Hồ gia nhập vào cơ quan tình báo Mỹ OSS, được đặt cho bí danh là Lucius. Ðể đổi lại tin tức tình báo về quân Nhật ở Việt Nam, người Mỹ cung cấp một số súng ống loại nhẹ cùng huấn luyện cho Mặt trận Việt Minh của ông. Ðây là một giai đoạn có nhiều chuyện lý thú nhưng ông Duiker dường như không mấy quan tâm đến.
Ðể tìm một phương tiện chống lại thực dân Pháp tại quê nhà Việt Nam, Nguyễn tất Thành đã tới với Quốc Tế Cộng Sản trong khi Quốc Tế Cộng Sản cũng đang muốn đi tìm một tổ chức Việt Nam để chống Pháp.Sau hội nghị Versailles năm 1919, chủ thuyết Cộng Sản của Ðảng Cộng Sản Nga dần dần thúc đẩy chuyện lật đổ những chính phủ thực dân hồi ấy không những ở Pháp mà còn ở Anh và ở Ý nữa. Vào lúc ấy Phi Châu bị chia thành những thuộc địa của những quyền lực Âu Châu, một số nước ở Ðông Nam Á cũng bị rơi vào hoàn cảnh tương tự. Miến Ðiện, Mã Lai, Singapore, Bắc Borneo ( ngày nay là tỉnh Sabah của Mã Lai ) và Hồng Kông trở thành thuộc địa của Anh. Indonesia là thuộc địa của Hòa Lan, Việt Nam, Lào và Cam bốt bị thực dân Pháp chiếm.
Vào lúc đó, trong Ðảng Cộng Sản Nga, không có sự liên minh chính trị nào với thành phần quốc gia hay những đảng không Cộng sản ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. Trong hoàn cảnh đó, Hồ chí Minh được chú ý đến và mở đầu cho những hoạt động cách mạng sau này. Ðảng Cộng Sản Nga hồi ấy đề ra nử lực để lật đổ những chính quyền thuộc địa, đồng thời không muốn dính líu vào những hoạt động " quốc gia thuần túy ". Cho nên chủ nghĩa quốc gia của Hồ đã bị rơi vào quên lãng.
Trong những năm đầu thập niên 1930, Hồ không được các cấp lãnh đạo Nga sô ở Moscow sủng ái, bởi vì chủ nghĩa quốc gia trong đầu óc Hồ mạnh mẽ hơn nên đã đè bẹp chủ nghĩa Stalin ( Stalinism). Stalin thì lại đang củng cố quyền lực trong Liên Bang Sô Viết thời đó. Hồ có vẻ không thích những cuộc đấu đá chính trị xảy ra ở Moscow trong thập niên 1930 mà chỉ chú ý đến tình hình ở quê nhà. Vì thế Hồ bị Nga sô lơ là không để ý đến.
Lúc ấy hoàn cảnh chính trị ở Pháp không giống như những gì xảy ra ở Việt Nam, mà giống như những gì đang xảy ra ở phía bên kia biên giới Pháp, tức là ở nước Ðức. Chế độ Phát-xít Ðức ngày càng hiếu chiến, và viễn cảnh Pháp lại sẽ phải đối đầu với Ðức một lần nữa đã bắt đầu ló dạng cuối chân trời.
Vào cuối thập niên 1930 thì tại Moscow giới lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Nga có sự thay đổi đường lối về chuyện hợp tác với " những người quốc gia ". Họ không còn ruồng rẫy những đảng phái quốc gia như trước nữa. Khoảng thời gian này là khoảng vào năm 1936 và Hồ lại được Ðảng Cộng Sản Nga ở Moscow tin dùng trở lại.
Quan trọng hơn nữa là chuyện cấp lãnh đạo Sô Viết ký hiệp ước " bất tương xâm " với Phát - xít Ðức vào tháng 8 năm 1939. Ðảng Cộng sản Nga đổi từ thái độ từ khước sang thân thiện với những đảng phái chính trị ở những thuộc địa Âu châu. Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi Liên Bang Sô Viết ký thêm một hiệp ước " bất tương xâm " với Thiên Hoàng Nhật vào tháng 4 năm 1942, khoảng chừng 1 năm sau khi Phát - xít Ðức tấn công Pháp. Người ta cho rằng Liên Bang Sô Viết lúc ấy cần tất cả tài lực, vật lực để trấn giữ biên giới phía Tây của mình. Hồ chí Minh lúc ấy đang làm công tác cho Borodin ở Thượng Hải, nghĩa là đang làm việc cho người Nga, dù Hồ đã dính líu với Ðảng Cộng sản Pháp từ lâu, Hồ là một trong những sáng lập của Ðảng này vào tháng 12 năm 1920. Từ đó ông ta hay tới những đại hội tổ chức ở Liên Bang Sô Viết trong thập niên 1920 với những câu hỏi về " vấn đề quốc gia ". Do đó, ông ta bị mất cảm tình với Ðảng Cộng sản Nga trong những năm đầu thập niên 1930 , nhưng lại được tin dùng trở lại khi Ðảng Cộng sản Nga thay đổi đường lối về chuyện hợp tác với những đảng phái không cộng sản, nếu những đảng này thật lòng muốn chống lại Phát xít Ðức. Chuyện diễn ra đâu đó trong khoảng thời gian từ 1936 đến 1939.
Nói đến Stalin thì trong cuốn sách, Duiker có kể chuyện khi Hồ gặp Stalin, Hồ có yêu cầu Stalin ký trên một cuốn tạp chí " Nước Nga đang xây dựng " do Nga xuất bản để lưu niệm. Nhưng sau đó Stalin cho mật vụ đến phòng ngủ của Hồ để lấy lại cuốn tạp chí có chữ ký Stalin này. Nói như thế để thấy Stalin khinh thường và coi rẻ Hồ như thế nào. Thủ tướng Nga Krushchevs cũng có mặt lúc Stalin gặp Hồ và sau này viết hồi ký cũng nói lên chuyện Stalin đối xử tàn tệ và khinh bỉ Hồ như thế nào. Có lẽ nhà thơ Tố Hữu không biết chuyện này nên khi Stalin chết đã khóc Stalin mấy vần thơ tâng bốc lên tới trời xanh !( Mấy câu thơ ấy là: "Ông Xít-ta-lin ơi, ông Xít-ta-lin ơi, Nghe tin ông mất đất trời còn không. Thương cha thương mẹ thương chồng. Thương mình thương một, thương ông thương mười (Tố Hữu)").
Trong hồi ký " Krushchev nhớ lại " ( Krushchev Remembers " xuất bản năm 1990 , Krushchev đã viết về Hồ chí Minh như sau:
" Chúng tôi đã thành thật và không ngần ngại trong mọi nử lực để giúp Việt Nam, và sự căng thẳng đối với chúng tôi do những thành phần thân Trung Cộng ở Việt Nam gây ra quả là một viên thuốc đắng khó nuốt. Tại sao tôi lại mang chuyện này ra bây giờ? Tôi mang nó ra vì nó liên hệ tới một vấn đề chứa đựng những gì chúng ta có thể mong đợi hiện nay khi Hồ chí Minh đã chết.
Theo những gì tôi đọc trên báo, những quan hệ giữa Việt Nam và Liên xô đều thuận tiện, trôi chảy. Những phái đoàn Việt Nam đang thăm viếng Liên xô, và có những phái đoàn báo chí của chúng ta tới Việt Nam để tường thuật về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Những bài tường thuật của họ được loan tải trên báo chí cũng như trên truyền hình và phim thời sự.
Nhưng có một vài thông tin cho tôi biết thật ra mọi chuyện không được trôi chảy và êm thắm như báo chí đã loan và truyền hình đã chiếu. Theo những tin tức tôi được biết, phía Việt Nam đang tỏ bày một sự tự chế không được bảo đảm lắm đối với chính phủ và Ðảng Cộng sản Liên xô. Ðiều đó có nghĩa là lực lượng thân Trung Cộng vẫn còn tồn tại trong chính phủ Việt Nam và ở trong tầng lớp lãnh đạo của Ðảng Lao Ðộng Việt Nam. Ở bên ngoài ai cũng nghĩ là những sự liên hệ thân thiện và sự hiểu biết hử tương đang phát triển giũa Việt Nam và Liên xô. Nhưng điều có thể xảy ra là sự biểu hiện bên ngoài này chỉ là cái vỏ bày ra do đám lãnh đạo Việt Nam tạo nên – ngay cả có thể có sự chúc lành của phía Trung Cộng – để không bị mất sự giúp đỡ của Liên xô và những Ðảng Cộng sản anh em khác. Tôi tin chắc đó không phải là chuyện đang xảy ra , dù tôi vẫn nghĩ là nó vẫn có thể xảy ra. Tôi muốn tin rằng Việt Nam thật sự muốn có những mối quan hệ tốt đẹp với Liên xô, nhưng tôi không nghĩ rằng Trung Cộng sẽ buông tha Việt Nam ra khỏi móng vuốt của họ, và như thế là những lực lượng thân Trung Cộng sẽ còn duy trì sức mạnh ở Việt Nam. Họ làm tất cả những gì có thể làm mà Trung Cộng muốn.
Giờ đây, với cái chết của đồng chí Hồ chí Minh, ảnh hưởng thân Trung Cộng lớn mạnh theo kiểu truyền nhiễm sẽ lan rộng ra một cách độc địa hơn bao giờ hết. Nếu nó xảy ra, thì đó là một điều đáng tiếc lớn, và nó sẽ là một thông điệp kém cỏi gửi đến đồng chí Hồ chí Minh, là người đã đầu tư nhiều suy nghĩ và nử lực trong chuyện tăng cường sự thân thiện của quốc gia ông với Liên xô.
Từ khi Hồ chí Minh chết, đã có nhiều diễn văn và bài tường thuậ tđược viết bởi những người có những chính kiến chính trị khác nhau, tất cả đều muốn trả lời những câu hỏi hiện nay đang làm nhiều người bận tâm: Việt Nam sẽ phát triển những mối quan hệ với Liên xô như thế nào? Với những quốc gia tư bản ra sao? Liên hệ kiểu gì với những Ðảng Cộng sản có quan điểm khác với Mao trạch Ðông? Những mối quan hệ của Việt Nam sẽ phát triển như thế nào dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Trung Cộng?Những thay đổi gì sẽ xảy ra ở đây trong những chính sách của Việt Nam? Giờ đây tôi muốn chia sẻ những cảm tưởng về những gì mà tôi đã được đọc và nghe cùng cố gắng diễn tả suy nghĩ của riêng tôi về những viễn cảnh của sự phát triển quan hệ giữa Liên xô và Việt Nam.
Dĩ nhiên không ai tiên đoán được những gì sẽ xảy ra. Có những dấu hiệu cho thấy những gì mong đợi kế tiếp, nhưng chúng ta phải cẩn thận về chuyện tiên đoán vì không có gì là miên viễn, thường hằng cả. Mọi chuyện đều luân lưu, thay đổi liên tục. Mọi chuyện có thể chuyển biến bất cứ lúc nào. Chẳng hạn như trước đây Liên xô và Trung Cộng có một mối giao hảo tốt đẹp không lầm lửi. Ngay cả mối liên hệ giữa các cấp lãnh đạo Liên xô và Mao trạch Ðông cũng rất tốt đẹp. Nhưng bây giờ tất cả đều thay đổi. Chuyện tương tự có thể xảy ra với Việt Nam. Mối liên hệ của chúng ta lúc đầu rất tốt; và nếu rồi đây nó trở nên tồi tệ đi, thì đó không phải là lửi của Ðảng Cộng sản Liên xô. Ðúng hơn, tôi tin đó là hoàn toàn kết quả của bản thân Mao trạch Ðông và ảnh hưởng của ông trên Việt Nam.
Những văn kiện tạo cho tôi một sự căn bản trong chuyện tiên đoán tương lai của Việt Nam căn cứ vào cái gọi là " di chúc Hồ chí Minh " và bài diễn văn nổi tiếng của Lê Duẩn. Tôi đọc hai văn kiện kia đến hai lần, và tôi rán đọc kỹ để có thể diễn dịch đúng đắn chúng.
Trong Di Chúc của Hồ chí Minh không nói gì đến sự giúp đỡ to lớn, không tính toán mà Liên xô đã dành cho Việt Nam. Sự giúp đỡ của chúng ta là một nhân tố quyết định, vì nếu không có sự giúp đỡ của Liên xô, Việt Nam không thể sống còn dưới những điều kiện của chiến tranh hiện đại để chống lại một kẻ xâm lăng giàu mạnh như Mỹ. Ðể có thể nhận được vũ khí và dụng cụ, Việt Nam không có lựa chọn nào hơn là phải dựa vào Liên xô. Ðể có thể đạt được chiến thắng, họ phải có những vũ khí thích hợp, và những vũ khí này họ chỉ có thể có từ Liên xô. Trung Cộng không thể cho Việt Nam những gì Việt Nam cần hôm nay. Báo chí thế giới, ngay cả những kẻ thù của Chủ nghĩa Cộng sản, cũng phải công nhận rằng Việt Nam không thể tiến hành chính sách kháng cự võ trang chống lại xâm lược Mỹ nếu không có sự giúp đỡ kinh tế và vật chất từ Liên xô. Lấy ví dụ như quân đội Bắc Việt Nam bắn một hỏa tiễn vào một căn cứ không quân Mỹ. Thường thì những hỏa tiễn ấy không thể chế tạo từ trong những rừng Việt Nam. Chúng đến từ những cơ xưởng ở Liên xô. Liên xô thường giúp bất vụ lợi cho tất cả những lực lượng và cho tất cả những người chiến đấu cho độc lập , tự do kinh tế và chính trị của mình và chống lại sự xâm lược của đế quốc.
Mới gần đây, ngay cả những thành phần thân Trung Cộng ở Việt Nam đã bắt đầu hiểu được sự cần thiết của tình bạn với Liên xô và truyền thống Hồ chí Minh được phần nào tái lập. Người Việt Nam đã hành động khôn ngoan khi họ tái định hướng những chính sách của họ. Tôi nói " tái định hướng" vì họ không thay đổi chính sách một cách căn bản, họ chỉ" tái định hướng" nó- ước tính sự cần thiết của chuyện tiếp tục chiến tranh đến tương lai và ý thức được rằng chỉ có Liên xô, chứ không phải Trung Cộng, có thể giúp họ sự hử trợ mà họ cần đến.
Ngày nay, cuộc chiến đấu ác liệt vẫn kéo dài và chiến thắng vẫn còn xa. Nhưng ánh sáng của sự chiến thắng của Việt Nam đối với đế quốc Mỹ có thể dã được nhìn thấy ló dạng cuối chân trời. Cho nên nử lực của chúng ta không nên giảm. Mọi thứ đều phải được tận dụng để mang cuộc đấu tranh của người Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. Có nhiều nguy hiểm trong cuộc chiến này hơn là tương lai của người Việt Nam. Người Việt Nam đang đổ máu và mất mạng vì lợi ích của phong trào Quốc Tế Cộng Sản. Liệu những người kế thừa Hồ chí Minh có đủ sự thông minh đưa cuộc đấu tranh này đến thành công hay không? Chỉ có thời gian mới trả lời được điều này
( Hồi ký Khrushchev ( Khrushchev remembers ) trang 485, 486, 487) Bản tiếng Anh..xuất bản năm 1990
( Sau khi Hồ chết, trong khi Khrushchev viết những hàng này để tả lại không khí thời bấy giờ thì lúc đó, Thủ tướng Liên xô Aleksei Kosygin và Thủ tướng Trung Cộng Chu ân Lai gặp nhau ở phi trường Bắc Kinh. Kosygin vừa trở về từ đám tang Hồ. Không có kết quả tích cực nào từ cuộc gặp gỡ này, và những cuộc chạm trán giao tranh nhỏ giữa quân đội Liên Xô và Trung Cộng và từ từ biến thành những trận đánh lớn vào cuối năm 1969 và1970. Sự lo ngại của Khrushchev rằng Việt Nam sẽ ngả về phía Trung Cộng đã không thật sự xảy ra. Thay vào đó Việt Nam ký một hiệp ước thân hữu và cộng tác với Liên xô vào ngày 3 tháng 11 năm 1978. Ðể đổi lại viện trợ kinh tế và quân sự, Việt Nam cho phép Liên xô dùng căn cứ cũ của Mỹ ở vịnh Cam Ranh. Vào tháng 2 năm 1979, chừng 85000 quân Trung Cộng vượt qua biên giới Hoa- Việt để đánh vào Việt Nam. Bắc Kinh gọi cuộc xâm lăng là " đánh trả để tự vệ " chống lại " quân xâm lược Việt Nam ". Có người cho là lý do Trung Cộng đánh Việt Nam là để trả thù cho đàn em Khmer đỏ ở Kampuchia vì năm 1978 Việt Nam đem quân sang Miên đánh đổ chế độ đàn em của Trung Cộng là bọn Khmer đỏ Pol Pot. Trận chiến trừng phạt kéo dài 27 ngày trước khi quân Trung Cộng rút về để lại sự hoang tàn, phá hủy trong một khu vực rộng 30 dặm vuông cách biên giới Việt- Hoa. Mối quan hệ Việt _ Trung từ lâu được đánh giá là mối quan hệ khắng khít như môi và răng. Giờ đây thì răng cắn dập môi và nhìn thấy hai nước Cộng sản đánh nhau sứt đầu lử trán người ta mới thấy thế giới đại đồng còn lâu mới thực hiện được!) Hồ chí Minh cố gắng " đi dây " giữa Liên xô và Trung Cộng, không làm mất lòng bên nào để có thể nhận viện trợ của cả hai bên. Lê Duẩn thì chống Trung Cộng ra mặt nên mới có cuộc chiến Hoa,Việt (1979).
Lại có thêm 1 điểm liên quan đến Việt Nam và Mỹ nũa mà ai cũng biết là Trân Châu Cảng ( Pearl Harbor ) của Mỹ bị Nhật tấn công vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Mục tiêu của Mỹ trong Thế chiến thứ hai là phải đánh bại quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản ở Thái Bình Dương. Có sự trùng hợp giữa mục tiêu chính trị và quân sự của Mỹ và Hồ chí Minh vào thời kỳ này. Không biết đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không mà Mặt Trận Việt Minh của Hồ chí Minh cũng được thành lập vào năm 1941.
Rõ ràng là cơ quan tình báo Mỹ thời bấy giờ là OSS ( tiền thân của CIA ) không những biết đến Hồ chí Minh trong thế chiến hai mà còn có mối quan hệ thân mật với ông nữa. Tổ chức Việt Minh của Hồ thường được ghi nhận công trạng là đã bỏ công tìm kiếm những phi công Mỹ cóphi cơ bị bắn rơi trong lúc dội bom quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản, đó là một góc cạnh hợp tác giữa Mỹ và Hồ chí Minh được nhắc đến nhiều trong suốt thế chiến thứ hai. Rồi đến sự kiện gây nhiều nghi vấn là Hồ có trích dẫn Bản Tuyên Ngôn của Nước Mỹ vào trong Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập chống người Pháp mà ông đọc tại quãng trường Ba Ðình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 .Nhưng liệu cái liên minh quân sự của Hồ và Mỹ trong thế chiến thứ hai có tạo nên được sự khác biệt nào không đến chuyện Hồ vẫn đang hợp tác với các cấp lãnh đạo Nga tại Moscow ? Liệu Hồ chí Minh trong giai đoạn này có đưa ra tuyên cáo nào chối bỏ tư cách hội viên lâu đời của ông trong Ðảng Cộng sản Pháp không? Liệu những hành động của ông trong thế chiến thứ hai không chỉ là vấn đề thuần túy của chuyện mở rộng liên minh giữa Mỹ và Liên xô hồi ấy trong chiến tranh ? Liệu có thể sự liên minh chính trị của Hồ chí Minh với Ðảng Cộng Sản Pháp thay đổi vì những biến cố của năm 1941 không? Ngược lại có thể nào thế đứng của Hồ chí Minh đối với Ðảng Cộng sản Nga được củng cố thêm vì những hành động Hồ làm trong thế chiến hai hay không? Duiker vẫn chưa đào sâu vào những vấn đề trên để đưa ra sự nhận định chính xác, dứt khoát.
Nhưng những câu chuyện cũ về sự hợp tác của người Mỹ với Hồ chí Minh không đưa ra được sự giải thích rõ ràng cho những biến chuyển bằng sự tập trung chú ý phân tích những tình huống xảy ra trên thế giới vào lúc thời điểm đặc biệt lúc bấy giờ, nghĩa là lúc đang có những sự xâm lăng của Phát - xít Ðức và Thiên Hoàng Nhật. Vào lúc ấy, phải nhận thấy rằng những mục tiêu chính trị và quân sự của Mỹ, Nga, Ðảng Cộng sản Pháp và bản thân Hồ chí Minh có sự trùng hợp nhau. Ðó là có một trận tuyến chống lại Nhật và Ðức. Hồ tình nguyện chiến đấu chống lại hai thế lực này và nhiều viên chức Mỹ còn khám phá ra đa số người Việt Nam có sự thân tình, tư cách và sự quyến rũ mà họ không tìm thấy ở những giống dân khác trên thế giới. Thật ra, đường lối chính trị của Ðảng Cộng sản Pháp và Nga có thay đổi vào cuối thế chiến hai, Hồ chí Minh may mắn có mặt đúng thời điểm này và phù hợp với sự thay đổi ấy nên đã được giao phó trọng trách chống Quân phiệt Nhật và Phát - xít Ðức.
Nhưng bất thình lình những ngày u ám cũ của thập niên 1920 lại tái xuất hiện vào năm 1946. Nó không xảy ra đầu tiên ở Việt Nam mà ở Âu châu . Ðó là chuyện quân đội Ðồng Minh phong tỏa Nga ở Berlin và mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh. Tổng thống bốn nhiệm kỳ Roosevelt qua đời năm 1944, trước khi thế chiến hai chấm dứt. Do đó cuộc chiến tranh lạnh và đường lối chính trị mới của Ðảng Cộng sản Nga và Pháp xảy ra đầu tiên không phải ở Việt Nam mà ở Ðức. Ðường lối " Mặt trận quốc gia " mà Ðảng Cộng sản Nga và Pháp đề ra giữa năm 1936 và 1939 một lần nữa lại trở về chính sách cũ là không cộng tác với những đảng phái không cộng sản.
Có những cuộc thanh lọc lớn xảy ra tại Ðông Ðức trong hai năm 1944 và 1945, khi quân đội Liên xô tiến vào Ðức. Những người không Cộng sản không được dung tha.
Lúc đó là lúc Tổng thống Mỹ Truman nhập cuộc với hòa đàm Berlin vào cuối năm 1945. Tại đó, Tổng thống Truman gặp lãnh đạo Nga Stalin. Vấn đề giải giới quân đội Nhật đang đóng tại Việt Nam được mang ra thảo luận cùng chung với những vấn đề khác khi thế chiến hai sắp đi đến giai đoạn cuối.
Ở Việt Nam vào cuối năm 1945 và 1946 quân đội Pháp đổ bộ trở lại . Chính phủ Truman cũng đang theo dõi những biến cố xảy ra ở Việt Nam cũng như ở Âu châu. Cục diện ở Việt Nam lúc đó có lẽ sẽ đổi khác nếu chính phủ Truman nghe lời Hồ chí Minh kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ dành cho nền độc lập Việt Nam từ tay người Pháp.
Nhưng nếu đường lối chính trị của Ðảng Cộng sản Nga và Pháp thay đổi một lần nữa năm 1946, đi theo đường lối cũ của thập niên 1920 thì điều đó có tạo nên được sự khác biệt nào không khi quân đội Pháp muốn trở lại vị trí cũ của họ ở Việt Nam? Có phải những sự quan tâm của chính phủ Truman đến những biến cố ở Âu châu đã không là chìa khóa của sự hiểu biết vì chính chính phủ này đồng ý và ngay cả hử trợ cho chuyện quân đội Pháp trở lại Việt Nam vào cuối thế chiến hai? Duiker cũng không đưa ra được một sự giải thích rõ ràng nào về những vấn đề nêu trên.
Theo một chuyên gia khác nghiên cứu về Việt Nam là Frances Fitzgerald cho rằng cuốn tiểu sử Hồ chí Minh của Duiker đã có ưu điểm là phân tích rất rõ về con đường Hồ chí Minh đã đi đến chủ nghĩa Mác - Lê Nin như thế nào.
Hồ đến với chủ nghĩa Mác-xít vào mùa hè năm 1920, qua " Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa " của Lê Nin. Hồ đã đọc về lý thuyết Mác - xít trước đó nhưng theo sự giải thích của Duiker, những sự lý luận của Lê Nin về mối dây liên hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và về sự quan trọng của những phong trào quốc gia ở Á châu và Phi châu ảnh hưởng đến cách mạng thế giới thật sự đã gây ra những sự chấn động dữ dội trong tâm thức Hồ, đã dẫn ông đến trạng thái chuyển biến. Từ một người yêu nước đơn giản với những hiểu biết sơ sài, đại khái về chủ nghĩa xã hội thành một nhà cách mạng Mác - xít. Vào năm 1921, khi Ðảng Xã Hội Pháp có sự chia rẽ về vấn đề có nên tham gia vào Quốc Tế Thứ Ba của Lê Nin hay không, Hồ trở nên là hội viên sáng lập của đảng này. Khi viết bài với bút danh Nguyễn ái Quốc, ông tranh luận không chỉ vấn đề chủ nghĩa Cộng sản có áp dụng được vào Á châu hay không mà liệu nó có giữ được những truyền thống Á châu vốn đặt căn bản văn hóa trên bình diện cộng đồng và bình đẳng xã hội.
Trong vòng 3 năm Hồ đòi hỏi đảng mới cần phải hành động về vấn đề thuộc địa, nhưng những người Cộng sản Pháp đã tỏ lộ ra là những người bênh vực Âu châu của họ, như ông Duiker đã nói trong sách, cho nên năm 1924 Hồ bỏ đi Moscow theo lời mời của Quốc Tế Cộng Sản. Tuy nhiên những cấp lãnh đạo Sô viết lúc này đang bận rộn với những vấn đề đấu đá nội bộ nên Hồ phải mất gần một năm mới thuyết phục nổi những viên chức trong Quốc Tế Cộng Sản gửi ông đến miền Nam Trung Hoa, nơi có một mối liên minh khó chịu giữa những người Quốc Dân Ðảng Trung Hoa và Cộng sản theo Mao, tại đây Hồ bắt đầu thuyết phục lôi kéo người Việt vào tổ chức của ông.
Hồ chí Minh trải qua 15 năm làm việc cho cách mạng Việt Nam với tư cách là một nhân viên của Quốc Tế Cộng Sản. Theo sự ghi nhận chính xác và tỉ mỉ của Duiker, trong giai đoạn này, Hồ nhấn mạnh nhiều đến chủ nghĩa quốc gia, cách tiếp cận kiên nhẫn và thực tiễn về chuyện tổ chức đã làm cho ông bị Moscow mất cảm tình. Ông vẫn cứ nhất định theo đuổi đường lối riêng của ông, chờ đợi cho qua những giai đoạn khó khăn, bị chống đối và nắm lấy ngay những cơ hội khi chúng trồi lên. Ở Quảng Ðông, Hồ xuất bản một tạp chí, dựng nên tổ chức Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội và thiết lập một cơ sở huấn luyện tạo nên nhiều sự hấp dẫn và chú ý trong giới học sinh, sinh viên khắp nướcViệt Nam.
Ngoài chủ nghĩa Mác - xít Lê-nin-nít, ông còn dạy đạo đức cách mạng do ông đề ra là : tiết kiệm, thành thật, quí trọng sự học hỏi, sự khiêm tốn và sự quảng đại. Những đức tính này, theo Duiker ghi nhận, đã mang màu sắc đạo đức Khổng giáo nhiều hơn là ý thức hệ của chủ nghĩa Mác Lê Nin.
Ðối với những người học trò theo ông, Hồ dường như là người biểu hiện cho những đức tính đó, và sự dạy dử của ông về những châm ngôn trên sau này đã trở thành một đặc điểm độc đáo của cách mạng Việt Nam.
Năm 1927, khi Tưởng giới Thạch bắt đầu ruồng bố phe Cộng sản Trung Hoa, tổ chức của Hồ bị dẹp bỏ và Hồ bị cảnh sát Trung Hoa đuổi chạy đến Hồng Kông rồi sau đó đến Moscow. Quốc Tế Cộng Sản gửi Hồ đến Pháp và rồi theo lời yêu cầu của ông, ông được gởi đến Thái Lan, tại đây ông sống trong vòng 2 năm để tổ chức và huấn luyện những người Việt Nam biệt xứ . Năm 1930, ông trở lại Trung Hoa làm việc trong khi vẫn cố gắng tránh né sự truy nã của cảnh sát Trung Hoa và mật vụ Pháp. Ông bị người Anh bắt tại Hồng Kông và bị tù 1 năm, rồi sau đó ông đến Moscow. Nhưng ông khó tìm kiếm sự giúp đỡ dù ít ỏi tại đây. Trong khi Stalin thanh lọc những kẻ nào đi ngược lại đường lối của Lê Nin và ra lệnh cho những đảng Cộng sản Á châu phải theo đuổi một mục tiêu không tưởng là tiến hành một cuộc cách mạng vô sản quốc tế toàn diện và triệt để, đồng thời chỉ thị cho những người Cộng sản Việt Nam thành lập Ðảng Cộng Sản Ðông Dương - danh xưng như thế nhưng mục đích duy nhất là tìm cách phá vỡ chế độ thực dân Pháp trong vùng. Cá nhân Hồ bị phê bình, điều tra và bị hạ tầng công tác trong thời gian này.
Năm 1938 số phận Hồ được coi là có sự thay đổi một cách may mắn. Vì Phát - xít Ðức đang lớn mạnh nên Liên xô thay đổi lập trường về chủ nghĩa quốc gia, có nghĩa là họ chuyển hướng ủng hộ thay vì chống đối như trước, Liên Xô kêu gọi thành lập liên minh của những sức mạnh tiên tiến để chống lại chủ nghĩa Phát -xít. Ðồng thời lúc đó Tưởng giới Thạch thành lập một mặt trận đoàn kết với Ðảng Cộng sản Trung Hoa để chống lại quân xâm lăng Nhật. Chiến lược của Hồ được sáng tỏ trở lại, Hồ lại cầm đầu những hoạt động đấu tranh của người Việt,và với tình trạng Nhật xâm lăng Ðông Dương, Hồ thành lập một Mặt trận quốc gia gọi là Việt Minh bao gồm thợ thuyền và nông dân để tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam.
Năm 1941, Hồ trở về nước sau 30 năm xa cách để chỉ huy và điều động một cuộc chiến tranh du kích trên vùng núi non Việt Nam.
Vào tháng 8 năm 1945, ba tháng sau khi phe Nhật hạ bệ chính quyền Vichy của Pháp và chỉ hai ngày sau khi Nhật đầu hàng Ðồng Minh, Việt Minh tiến vào Hà Nội. Giữa tiếng hoan hô ngất trời của dân chúng, Hồ chí Minh đọc Tuyên Ngôn Ðộc Lập. Nhưng đó chỉ là giai đoạn mới bắt đầu.
Hồ chí Minh không muốn có chiến tranh với người Pháp. Ông đã làm bất cứ điều gì để tránh né chiến tranh. Qua cơ quan tình báo Mỹ OSS mà ông đã xây đắp mối quan hệ thân tình trong chiến tranh, ông kêu gọi chính phủ Mỹ ủng hộ - ông hứa là sẽ để cho Mỹ dùng vịnh Cam Ranh để Hải Quân Mỹ đóng quân. Ông lập ra một chính phủ liên hiệp, ông rán kiềm chế sự nóng nảy và đồng ý chấp nhận sự hiện diện quân sự của Pháp và Việt Nam chấp nhận làm hội viên trong khối Liên Hiệp Pháp, miễn sao cuối cùng rồi người Pháp đồng ý trao lại nền độc lập cho Việt Nam.
Nhưng sau những thất bại nhục nhã mà Pháp phải chịu đựng trong thế chiến hai, ngay cả những người Pháp trong Ðảng Xã Hội cũng không chấp nhận nổi ý tưởng từ bỏ những thuộc địa cũ. Cho nên đầu năm 1947, Hồ rút vào rừng rậm để tiến hành cuộc chiến tranh du kích. Ông được ghi nhận có nói với người bạn Pháp Jean Sainteny như sau, " Pháp có thể giết 10 người Việt Nam trong khi Việt Nam giết một người Pháp, nhưng Pháp cuối cùng là phe sẽ mỏi mệt và thua cuộc ." Diễn tiến tình hình xảy ra sau này đúng y như thế.
Trong cuộc chiến tranh chống Pháp cũng như trong thế chiến hai, Hồ và những đồng chí của ông ta sống trong những hang động hay những túp lều tranh trên núi, phải di chuyển thường xuyên để tránh sự truy lùng của Pháp và thường xuyên chịu cảnh đói, bị bệnh sốt rét và kiết lỵ. Năm 1954, Việt Minh thắng trận chiến quyết định Ðiện Biên Phủ nhưng chiến tranh vẫn cứ tiếp tục. Mao trạch Ðông bắt đầu cung cấp chiến cụ và sự huấn luyện cho quân Việt Minh đang ở trong tình trạng trang bị kém cỏi. Trong lúc đó Mỹ bắt đầu chi viện cho những nử lực chiến tranh của Pháp. Những siêu cường giờ đây đã dính líu sâu đậm vào Việt Nam, và năm 1954 họ gặp nhau ở Genève để thảo luận, dàn xếp về vấn đề Việt Nam.
Dưới áp lực của Bắc Kinh và Moscow, Việt Minh đồng ý và chia đôi ở vĩ tuyến 17. Chuyện chọn vĩ tuyến 17 cũng không do chính phủ ông Hồ quyết định mà do Tàu và Nga định đoạt. Nói như thế để thấy chính phủ ông Hồ chưa có sự độc lập thật sự trong quyền hành mà hoàn toàn bị lệ thuộc vào hai nước Cộng sản đàn anh Nga, Tàu. Theo hiệp định, một cuộc bầu cử sẽ được tổ chức trong vòng 2 năm để thống nhất đất nước. Tuy nhiên Bắc Kinh và Mạc tư Khoa không bảo đảm chuyện bầu cử sẽ được tiến hành như dự tính, Mỹ không ký vào hiệp định và một thời gian sau hiệp định Genève không lâu, Ngoại trưởng Mỹ John Foster tuyên bố Mỹ sẽ bắt đầu bảo trợ một quốc gia không Cộng sản ở miền Nam. Dưới nhãn quan của những nhà cách mạng Việt Nam, hiệp định Genève là bước đầu đưa đến chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai.
Vào năm 1954, sau khi Việt Minh cuối cùng đánh đuổi quân Pháp được Mỹ hử trợ ra khỏi Việt Nam. Nhưng chuyện đó cũng là lời cam kết của những đồng minh Cộng sản của Hồ, vốn thích hòa dịu với Washington sau chiến tranh Triều Tiên hơn là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Tại hiệp định Genève năm 1954, những nhà thương thảo Trung Cộng và Liên xô rút bỏ sự ủng hộ cho vấn đề một nước Việt Nam thống nhất và có ý muốn đi theo kế hoạch chia quốc gia này ở vĩ tuyến 17 cho đến năm 1956 hơn, khi mà những cuộc bầu cử được tổ chức ( thực tế là những cuộc bầu cử đã không xảy ra ) để quyết định phần còn lại của đế quốc gọi là miền Nam Việt Nam có muốn gia nhập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không, nơi mà Hồ đã tuyên bố độc lập từ năm 1945.
Theo nữ ký giả Carol Brightman, trong một bài điểm cuốn sách Hồ chí Minh của Duiker, đã nhận định là Sử gia Duiker đã cung cấp nhiều tin tức mới về những mối quan hệ đầy sóng gió mà Hồ có với cả Liên xô và Trung Cộng. Sự chú ý của Liên xô dành cho cách mạng Việt Nam đã ở mức độ sút kém, không chỉ sau thế chiến 2 và năm 1954 mà từ năm 1923, khi Hồ đến Moscow tập tành làm cách mạng và gia nhập vào cách mạng thế giới, và Stalin nghi ngờ Quốc Tế Cộng Sản ( Comintern ) đã mang một khuôn mặt quốc gia hơn là quốc tế. Năm 1924, khi Hồ rời Moscow để rán thành lập một đảng Cộng sản trong giới những người Việt Nam lưu vong ở Trung Hoa, Hồ làm điều này không có sự tán thành đồng ý của Stalin. Vào cuối thế chiến 2, khi Hồ thiết lập một mối quan hệ mong manh với Hoa Kỳ - một bước đi cực kỳ khôn ngoan, đã giúp Hồ chế ngự được phe quốc gia đối thủ, và sau khi Nhật đầu hàng, cho phép Hồ thâu tóm quyền lực nhanh chóng - Stalin nghi ngờ nhiều về sự trung thành của Hồ.
Vào năm 1947, hai năm sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập - khi Hồ giới thiệu nhà nước mới với những lời " Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ được Thượng đế cho những quyền không thể chuyển nhượng được.." - Phe Trung Cộng công nhận tính chất hợp pháp của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong khi Liên xô không làm như vậy. ( Khi nhân viên tổ chức tình báo OSS của Mỹ tên Archimedes Patti đọc bản thảo bài Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hồ năm 1945, ông hỏi có vẻ ngạc nhiên là Hồ có thật tình muốn mượn câu viết trong Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Mỹ để đem vào trong Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Việt Nam không? Patti hỏi Hồ vì bản thân Patti cảm thấy cái gì đó lấn cấn không ổn trong người. Hồ ngả người trên ghế, lấy ngón tay đặt lên môi và hỏi nhỏ, " Tôi không nên dùng nó à ?"
Vào năm 1950, một năm sau khi Cộng sản lên nắm quyền ở Trung Hoa, Hồ được mời đi xe lửa cùng chung với Mao và Chu ân Lai tới Moscow, nơi mà Trung Cộng và Nga sẽ ký một hiệp ước kéo dài 30 năm. Hồ hy vọng sẽ " đối chất " với Stalin về cuộc chiến tranh chống Pháp và lấy cảm tình của Liên xô trong sự hử trợ. Nhưng theo lời thuật lại của Nikita Khrushchev, Stalin đã đối xử tàn tệ và khinh miệt Hồ. Tại buổi lễ ký kết, Khi Hồ đề nghị Stalin nên ký một hiệp ước tương tự với Việt Nam, Stalin trả lời rằng vì Hồ tới Moscow với tư cách viếng thăm không chính thức nên không Nga không ký với Việt Nam được. Hồ đề nghị một cách vui vẻ pha chút đùa cợt rằng ông sẽ bay quanh thành phố bằng trực thăng và sau đó sẽ đáp xuống phi trường với những nghi lễ long trọng thích hợp. Stalin cắt ngang lời, " Ồ mấy ông Á châu nhà ông bày đặt ra nhiều chuyện tưởng tượng quá."
Nhưng Hồ đã thuyết phục được Liên xô công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong năm ấy và cung cấp sự giúp đỡ vật chất cho Việt Minh với một điều kiện của Stalin là Trung Cộng phải đóng một vai trò chủ chốt trong việc hướng dẫn cuộc đấu tranh. Bây giờ nhìn lại người ta mới thấy Stalin đánh giá Hồ sai rất nhiều; Hồ là một người của quốc tế và trở thành một người Cộng sản vì ông cũng là người quốc gia. Giống như người đồng chí đàn em Phạm văn Ðồng từng nói, " Người Cộng sản là người yêu nước chân thành nhất."
Vấn đề thật sự của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xảy ra sau này với phía Trung Quốc, là phía tin chắc là năm 1950 cuộc chiến với Mỹ có thể nổ ra bất cứ lúc nào ở bất cứ chử nào dọc theo những biên giới của họ. ( Ðúng vậy, sau cùng, đó là năm quân đội Trung Cộng vượt qua vĩ tuyến 38 ở Triều Tiên.) Cho nên điều quan trọng là phải xây dựng hàng rào phòng thủ Trung Hoa ở Ðông Dương. Quyết định này tự nhiên đã khiêu khích chính phủ Truman dính líu sâu đậm hơn vào Ðông Dương và vào tháng 4, cả Washington và Bắc kinh đều cung cấp vũ khí và gửi những công tác giúp đỡ đến đồng minh của họ ở Việt Nam. Nhìn lại những biến chuyển nóng bỏng vào năm 1950, người ta thấy rằng Trung Cộng và Mỹ đã có những chiến thuật ngăn chận tương ứng nhiều như thế nào ở Ðông Nam Á châu cho tới thử thách cuối cùng đưa tới đụng độ ở Triều Tiên và làm thế nào mà cuộc chiến của Mỹ đã bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh lạnh một thời gian dài trước khi quân Pháp bại trận ở Ðiện Biên Phủ năm 1954.
Những rắc rối mà Hồ gặp phải với chuyện Trung Cộng xía vào những vấn đề nội bộ dần dần lớn dần lên. Bộ trưởng quốc phòng Võ nguyên Giáp đã dùng khuôn mẫu chiến tranh nhân dân của Trung Cộng để chống lại Pháp, và sự có mặt của những cố vấn Trung Cộng không phải không được tiếp đón niềm nở. Nhưng rồi chuyện dần dần sáng tỏ về vấn đề chỉ thị của Stalin gửi Mao trong đó bao gồm việc cần phải tái tổ chức Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ( mà Hồ đã sáng lập ở Hồng Kông năm 1930) theo chiều hướng chính thống nhiều hơn.Dưới sự hướng dẫn của Hồ, mô hình Lê-nin-nít của cuộc cách mạng trải qua hai giai đoạn - trong đó một mặt trận liên kết rộng rãi sẽ hoàn thành công tác giải phóng quốc gia trước khi Ðảng bắt đầu sự chuyển hóa lên chủ nghĩa xã hội - đã xảy ra một cách chần chừ, dằng dai, đối với những người chủ trương cứng rắn như Trường Chinh ( cũng như Mao và Stalin), giai đoàn đầu đã kéo quá dài thời gian. Với sự chiến thắng của phe Cộng sản Trung Hoa trên đại lục và viễn cảnh chiến thắng quân Pháp của Việt Nam ngày càng tăng lên, những cấp lãnh đạo Ðảng bỏ phiếu năm 1951 để tiến vào giai đoạn hai.
(Nhắc đến Võ nguyên Giáp người ta chưa quên phe Lê Duẩn - Lê đức Thọ đã làm nhục Giáp sau này bằng cách phong cho ông cựu Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bộ trưởng quốc phòng Võ nguyên Giáp làm chức " Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch " ( nói nôm na là " cai đẻ " ) vào tháng 4 năm 1984 . Giáp phải cắn răng mà nhận vì không dám chống lại liên minh Duẩn- Thọ. Sau này có dịp nói chuyện với nhà văn Sơn Tùng, Giáp phân bua, chống chế cho hành động hèn kém cúi đầu nhận chức " cai đẻ" của mình như sau:
" Tôi làm tất cả việc này vì tôi nhận được ở Bác Hồ một điều khi cùng ở với Bác ở hang Pắc Bó, khi lót cây Bác có nói như thế này, " Việc gì dù nhỏ đến mấy mà có lợi có ích cho nhân dân, cho tổ quốc thì làm. Việc gì dù nhỏ, nhỏ đến mấy mà có hại cho dân cho nước thì nên tránh.")
Khi chiều hướng ngả sang bên tả rồi thì những cuộc vận động " tố khổ " kiểu Trung Cộng đã được tiến hành ở mức độ những làng xã, nơi mà những quy luật cải cách ruộng đất tập trung chú ý vào chuyện giảm thiểu ảnh hưởng kinh tế và chính trị của tập lớp địa chủ. Duiker căn cứ nhiều vào tình báo Pháp và những người Việt Minh hồi chánh để thấy những cuộc thảo luận phần lớn được coi như những sự đấu tranh quyền lực giữa những cấp lãnh đạo Ðảng, nó đi ra ngoài phạm vi đường lối mà trở thành một cuộc " cách mạng chống địa chủ " vào giai đoạn hai. Ðó là một cách để lôi kéo nông dân, một cách để thưởng nông dân vì sự trung thành và để cho những sự hy sinh thêm có ý nghĩa, đó là cách làm lớn cái " biển " lên để Ðảng và quân đội bơi trong đó. Lê đức Thọ có phát biểu về những nhu cầu thực tế như sau vào năm 1952, " Nếu ai muốn nông dân tham gia đấu tranh quân sự, điều cần thiết đầu tiên là phải gợi lòng căm phẫn kẻ thù trong lòng họ."
Duiker đoán rằng Hồ vốn là một người thích làm từ từ, đã nổi cáu trước chiều hướng mới này vì nó giới hạn khả năng của ông để vận động tình hình quốc tế và bởi vì nó tạo nên một thái độ quỳ lụy trước sự dạy dử của Trung Cộng mà Hồ đã từng chống đối trong quá khứ qua câu nói để đời, " Thà phải hửi phân thằng Tây thêm một chút còn hơn phải ăn phân thằng Tàu suốt đời." (Hồ nói câu này vào khoảng năm 1946, đúng vào lúc ông cố gắng thương thảo với Pháp trong lúc đám quân Quốc dân đảng của Tàu đang đóng tại miền Bắc Việt Nam).Duiker ghi nhận khi Hồ lên tiếng ca ngợi chính quyền Cộng sản mới thành lập ở Bắc Kinh, ông chỉ đóng kịch tài tình để làm vừa lòng nước viện trợ mà thôi. Trong bất cứ tình huống nào, khi một chương trình được đưa vào hành động, nó chỉ có hình thức trình diễn bên ngoài nhiều hơn là thực chất lợi lộc bên trong; và chính sách của Hồ luôn đi theo con đường ôn hòa đã tiếp tục được tiến hành cho đến năm 1954, khi những tiếng nói đối lập được thúc giục bởi những cố vấn của Mao, đã dập tắt ý muốn của Hồ.
Sau khi ý muốn Washington muốn ngăn chặn cuộc bầu cử ở miền Nam đã lộ ra quá rõ ràng, ở miền Bắc một cuộc cải cách mới với nhiều sự trả thù hơn được tiến hành, trong đó những địa chủ cứng đầu, đa số là người Thiên chúa giáo, đôi khi bị tra tấn và ngay cả bị giết. Hồ lên án những vụ tra tấn mà ông ta cho là trò mọi rợ của đế quốc. Ông đặt câu hỏi rằng, " Tại sao chúng ta đang tiến hành một chương trình công bằng chính đáng mà lại đi dùng những phương pháp tàn bạo ?" . Chỉ khi có những bộ đội Việt Minh phản đối những trận đấu tố gia đình họ thì cuộc cải cách mới thối lui và các viên chức thú nhận là " đã đánh giá quá cao quân thù ."Tuy nhiên đã quá trễ để giữ lại những người muốn Thiên chúa giáo di cư vào Nam. Có chừng 600000 người theo " Ðức mẹ đồng trinh " vào Nam trong khi chừng 900000 người Thiên chúa giáo ở lại.
Duiker phê phán nặng nề Hồ trong giai đoạn này chứ không đổ lửi cho cơ chế Cộng sản. Dù Hồ không trực tiếp thi hành cuộc cải cách ruộng đất hay vụ đàn áp những trí thức phản kháng trong " Nhân Văn Giai Phẩm " sau đó, ông sẵn lòng tha thứ cho những hành động tàn bạo của cấp dưới vì lợi ích của sự nghiệp cách mạng. Duiker nhận xét rằng, " Hồ chí Minh trở thành tù nhân của sự sáng tạo của ông ta.. vì trong khi uy tín đang xuống nên ông không tránh được đường đi cứng ngắt của một hệ thống tàn sát số phận của nhiều người để đạt cho được chỉ tiêu đạo đức cách mạng của kế hoạch của cấp trên"
Sự thận trọng của Việt Nam đối với ảnh hưởng Trung Cộng gia tăng thêm trong thời gian chiến tranh với Mỹ. Những viện trợ cho Hà Nội đôi khi bị tắc nghẽn vì sự tố cáo lẫn nhau giữa Moscow và Bắc kinh. Nga theo đường lối sống chung hòa bình với phương Tây năm 1956, trong khi Bắc Kinh vào cuối thập niên 1960 đã cổ súy cuộc cách mạng văn hóa. Duiker ngạc nhiên khi thấy lớp đàn em kế tục Hồ không phải là Phạm văn Ðồng và Võ nguyên Giáp mà là Lê Duẩn và Lê đức Thọ, Duẩn và Thọ là những kẻ giáo điều, những kẻ mà Tổng Thống Mỹ Johnson gọi là " những kẻ hiếu chiến từ miền Bắc." Những kẻ chủ chiến Lê Duẩn và Lê đức Thọ sau khi tước quyền Hồ chí Minh đã tiến hành cuộc chiến tranh nhuộm đỏ miền Nam cho đến ngày toàn thắng năm 1975.
Ở Hà Nội, Hồ sống đơn giản như khi còn sống trong vùng du kích kháng chiến. Ông từ chối dọn vào dinh toàn quyền mà sống trong một ngôi nhà sàn sau lưng dinh toàn quyền nằm cạnh một dòng suối. Ông là Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng ông muốn người dân gọi ông là Bác Hồ. Người ta thường thấy ông bận bộ đồ Kaki, đi dép râu nói chuyện với nông dân hay với những trẻ em hớn hở. Ðối với những nhà quan sát bên ngoài thì cách sống của ông có vẻ như là một màn tự trình diễn màu mè giả tạo. Sau hết, ông là người chinh phục người nghe bằng cách nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, thích sự khen ngợi và tình yêu phụ nữ dành cho ông. Duiker kể rằng lúc ở Trung Hoa ông đã lấy vợ hai lần và khi ở Hà Nội ông đã làm cha một đứa nhỏ. Duiker không giải thích nhiều về tài đóng kịch của Hồ, nhưng có nhiều điều đạo đức Khổng giáo mà Hồ chưa làm được. Theo truyền thống Khổng giáo, vua phải mẫu mực trong chuyện hành động đúng. Hồ chưa phải là người mẫu mực trong đời sống tình cảm cá nhân, có thể là do bản thân ông mà có thể là do tổ chức chính trị ( Ðảng) không cho phép ông công khai sống đời tình cảm bình thường của một người đàn ông vì Ðảng muốn biến ông thành một biểu tượng siêu phàm có lợi cho cuộc đấu tranh. Bằng cách từ chối nếp sống xa hoa vương giả, Hồ muốn chứng tỏ chính chân thực của cuộc cách mạng của ông đến toàn dân là đoạn tuyệt với quá khứ phong kiến.
Vào cuối thập niên 1950 và đầu 1960, Hồ đi nước ngoài nhiều để khéo léo vận động làm sao cho Liên xô và Trung Cộng viện trợ cho chính quyền của ông ta dù mối quan hệ Nga-Trung ngày càng đổ vỡ trầm trọng. Nhưng vai trò của ông ngày càng có tính cách nghi lễ nhiều hơn. Lê Duẫn, một người trải qua nhiều năm tù trong nhà giam thực dân Pháp, đã lên nắm quyền và hất cẳng ông Hồ ra rìa. Chịu chung số phận với ông là Ðại tướng Võ nguyên Giáp. Duiker cho rằng Hồ mất dần quyền lực từ cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo vào những năm 1955-1956, vào lúc ảnh hưởng Trung Cộng đang đè nặng lên cuộc cách mạng Việt Nam. Theo Duiker, Hồ không trực tiếp dính líu đến cuộc cách mạng cải cách ruộng đất nhưng với danh tiếng của ông là một người lãnh đạo biết hết mọi chuyện và lo hết mọi điều, uy tín ông bị sứt mẻ nặng nề vì sự tàn bạo trong chiến dịch.
Ðầu thập niên 1960, Hồ cảnh cáo những đồng chí của ông về quyết định ra lệnh tổng nổi dậy quá sớm ở miền Nam và chống lại chuyện quá đề cao vấn đề đấu tranh quân sự. Hồ muốn tránh đem Mỹ vào cuộc chiến tranh, và cho đến khi chính phủ Johnson bắt đầu ném bom miền Bắc, Hồ vẫn tin tưởng Washington sẽ từ bỏ sự ủng hộ chính quyền Sài Gòn. Nhưng chuyện không diễn ra như thế. Khi quân Mỹ bắt đầu đổ vào Việt Nam năm 1965, Hồ đã 75 tuổi và không còn chút quyền lực gì trong chính quyền do ông tạo dựng nên.
Năm 1962, có một nhà báo Pháp tên Bernard Fall đến Hà Nội phỏng vấn Hồ chí Minh và mong sẽ tìm ra những câu trả lời cho những chuyện bí ẩn trong đời Hồ. Hồ cũng đã nói thẳng là ông không muốn nói hết những bí ẩn về mình, Hồ nói với Bernard Fall như sau, " À, như ông thấy, tôi là một người đã già, rất già.. Tôi muốn giữ lại một số bí mật nhỏ của tôi." Bản thân Hồ không muốn khai ra những bí mật về mình thì cũng khó mà bạch hóa tất cả những bí ẩn của ông được.
Duiker đánh giá Hồ chí Minh là " Một nửa Lê Nin và một nửa Gandhi " , có nghĩa là con người Hồ chí Minh vừa độc ác, tàn bạo như Lê Nin, vừa đạo đức, thánh thiện như thánh Gandhi. Phần tàn bạo Lê Nin trong người Hồ đã quá rõ ràng, nhưng phần thánh thiện Gandhi trong Hồ vẫn còn mờ nhạt tuy Hồ luôn tìm kiếm cách giải quyết vấn đề mà không cần đến sức mạnh quân sự và khác với những đồng chí của ông, ông có một tầm nhìn xa nhạy bén về những thực tế về quốc tế và quốc nội, từ đó đưa ra một giải pháp thực tiễn, khéo léo và kiên nhẫn để khôn ngoan tìm kiếm những giải pháp bằng đường lối ngoại giao. Không may thay, Duiker trách cả Pháp lẫn Mỹ đều không cảm thấy điều đó để đáp ứng đúng lúc, để cho vấn đề tranh chấp được giải quyết theo đường lối hòa bình và có thể đã tiết kiệm xương máu cả hàng triệu nhân mạng.
Học giả Trần trọng Kim trong hồi ký " Một cơn gió bụi ", có kể lại chuyện năm 1946 có qua Hương Cảng ( Hong kong) gặp vua Bảo Ðại. Khi gặp nhau, lời đầu tiên mà vua Bảo Ðại nói với cụ Trần là:
" Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn."
( Trích từ cuốn hồi ký " Một cơn gió bụi " trang 146 của Trần trọng Kim )
Chữ" du côn" mà vua Bảo Ðại dùng để chỉ Hồ chí Minh và tổ chức Việt Minh ngay từ năm 1946 thật là quá đúng. Hồ chí Minh, qua tổ chức Việt Minh, ngay từ 1945 đã có những hành động bạo ngược, bắt người lấy của, giết hại những người không theo đảng họ, hay vì tư thù chém giết một cách tàn nhẫn. Họ đánh Pháp nhưng mục đích cốt yếu đạt được không phải vì quốc gia, nhưng họ phải lợi dụng hai chữ quốc gia để chống với quân địch mà đứng vào cái địa vị tranh đấu cho nền độc lập nước nhà. Chỉ trong mấy năm thành lập, Việt Minh do Hồ chí Minh lãnh đạo đã lòi ra nanh vuốt của loài quỉ dữ, của bọn người bất nhân tàn độc nên đã bị vua Bảo Ðại gọi là bọn du côn.
Ngay trong di chúc thật Hồ chí Minh cũng thú nhận ông không ngại làm việc ác vì muốn noi gương Trần thủ Ðộ ngày xưa, sẵn sàng làm ác mà vẫn làm cho nước giàu dân mạnh. Thật ra Hồ chí Minh có sự nhầm lẫn lớn lao khi so sánh chuyện làm ác của mình với Trần thủ Ðộ. Trần thủ Ðộ vì muốn bảo vệ ngôi báu cho nhà Trần nên đã tàn nhẫn ra tay tàn sát hậu duệ của nhà Lý. Nhưng đối với nhân dân Trần thủ Ðộ không có hành động nào có thể gọi là thất nhân tâm, giết người vô tội như Hồ chí Minh đã làm trong cải cách ruộng đất. Vì không làm điều gì sai quấy với nhân dân nên Trần thủ Ðộ đã đoàn kết được nhân dân chống giặc Nguyên và sau đó xây dựng một đất nước giàu mạnh. Hồ chí Minh thì ngoài nhiệm vụ giành độc lập dân tộc, ông còn có bổn phận đối với Quốc Tế Cộng Sản mà ông là hội viên, nên sau khi kháng Pháp thành công ông đã nghe theo lời Trung Cộng để làm cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo, giết hại cả trăm ngàn dân vô tội.
Nhưng rồi cuối đời, ông sống những ngày thê thảm như ông đã trối trăn trong chúc thư thật và bị chính chế độ do ông dựng ra đày ải, giam cầm ông. Ông như một phù thủy ác độc tạo ra âm binh để dùng trong những việc mờ ám. Nhưng vì là loại phù thủy không cao tay ấn nên âm binh quay ngược lại hãm hại người phù thủy đã tạo ra chúng.
Cuộc đời của Hồ chí Minh là một bi thảm kịch. Thảm kịch không chỉ xảy ra cho bản thân ông mà còn cho cả dân tộc Việt Nam.
Bài học mà chúng ta có thể rút được từ cuộc đời Hồ chí Minh là đừng bao giờ áp dụng một cách máy móc một học thuyết ngoại lai nào ( Tây, Tàu, Nga, Mỹ ) vào đất nước Việt Nam mà không cân nhắc, cẩn thận vì học thuyết nào cũng có cái đúng, cái sai. Ðem áp dụng một cách mù quáng thì lợi bất cập hại như Hồ chí Minh đã đem với học thuyết Mác - Lê vào Việt Nam. Sai lầm của một thầy thuốc thì giết mất một con bệnh, sai lầm của một nhà chính trị là giết luôn không phải một thế hệ mà nhiều thế hệ người dân. Ðất nước Việt Nam ngày hôm nay vẫn còn tiếp tục chảy máu vì những di sản độc hại do Hồ chí Minh để lại. Máu sẽ phải chảy một lần nữa để rửa cho sạch những tàn tích độc hại của một chủ nghĩa ngoại lai và hy vọng đây là lần chót người Việt Nam sẽ tỉnh táo nắm giữ vận mạng đất nước mình, xây đắp một nền độc lập thật sự cho quê hương Việt Nam mến yêu chứ không còn làm bù nhìn và tay sai cho ngoại bang như Hồ chí Minh và những đám lãnh đạo hai miền Nam Bắc đã làm trong suốt thế kỷ qua.

Lawndale, Một ngày tạnh ráo có nắng vàng hoe đầu tháng 3 năm 2004
TRẦN VIẾT ÐẠI HƯNG
 

 

No comments:

Post a Comment