Bình luận về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Bình luận về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Friday, 15 June 2012

38 * NGUYỄN MINH CẦN * NÔNG THỊ XUÂN & PHƯƠNG MAI

NGUYỄN MINH CẦN * PHƯƠNG MAI & NÔNG THỊ XUÂN     

Vài mẩu chuyện về cuộc đời HCM

Nguyễn Minh Cần

(Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội)

"một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy ..." (trích sách Những mẩu chuyện ..., tr. 7) thì ... tự tay mình viết tiểu sử của mình để tự tôn vinh, tự đề cao chán chê, rồi "lập lờ đánh lận con đen" đặt tên tác giả là Trần Dân Tiên. Quả là một sự phỉ báng đối với lương tri con người!

Người viết bài này hy vọng góp thêm vài "mẩu chuyện" vào cuốn sách "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" của Trần Dân Tiên mà như lời giải thích miệng "từ Trên", khi cuốn sách được xuất bản lần đầu ở miền Bắc -- "tác giả của nó là một nhà báo nổi tiếng có cơ hội được biết rõ về thân thế của Người". Thực ra, hồi những năm 50, đại đa số cán bộ, chứ nói gì đến nhân dân, chưa hề nghe tên và không ai biết cái ông "nhà báo nổi tiếng" Trần Dân Tiên, tác giả cuốn sách "bất hủ" đó, là ai cả. Chỉ có một số rất ít cán bộ cao cấp thì thầm rỉ tai nhau về điều bí mật quốc gia: "... Chứ còn ai nữa!" 

Mãi về sau này, qua hàng mấy thập niên, nhiều người mới ngã ngửa ra là ông tác giả "Chứ còn ai nữa!" đó, ông Trần Dân Tiên huyền thoại kia, chính là ông Nguyễn Tất Thành, cũng chính là ông Nguyễn Ái Quốc, và cuối cùng, cũng chính là ... ông Hồ Chí Minh. Thế nhưng báo chí chính thức ở Việt Nam cho đến nay vẫn tiếp tục "giấu như mèo giấu c..." Theo tôi biết, hình như trong "thế giới" cộng sản, chỉ có hai lãnh tụ trực tiếp tham gia vào việc "xây dựng" tiểu sử của mình để lưu danh hậu thế là Stalin và Hồ Chí Minh. Tôi nói "hình như" vì không biết chính xác Kim Nhật Thành đã làm phù phép như thế nào với tiểu sử của ông ta. Nhà độc tài đẫm máu Stalin đã không trắng trợn tự tay viết tiểu sử của mình, mà giao cho một ban của Trung ương đảng, viết theo sự hướng dẫn của chính ông và cuối cùng ông "chỉ" hiệu đính tiểu sử của mình trước khi cho xuất bản. Còn "một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy ..." (trích sách "Những mẩu chuyện ...", tr. 7) thì ... tự tay mình viết tiểu sử của mình để tự tôn vinh, tự đề cao chán chê, rồi "lập lờ đánh lận con đen" đặt tên tác giả là Trần Dân Tiên. Quả là một sự phỉ báng đối với lương tri con người!
Mặc dù thế, tôi xin thành thật khuyên các bạn, ai đã có cuốn sách "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" thì chớ vội nóng nảy vứt nó đi mà phí, trái lới, thỉnh thoảng nên đọc lại để thấy rõ hơn bức chân dung thật của người viết ra nó. đó là tấm gương để đời!


Ngay từ đầu sách, bạn gặp đoạn này: "Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất giản đơn: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lới thân thế của mình". Hay một đoạn khác: "Tôi (lời Trần Dân Tiên huyền thoại) nói rõ mục đích của tôi. Chủ tịch chú ý nghe. Sau khi nghe xong, Người cười và đáp: "Tiểu sử đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ. Sau tám mươi năm nô lệ, nước ta bị tàn phá, bây giờ chúng ta phải xây dựng lại. Chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp kia đã! Còn tiểu sử của tôi ... thong thả sẽ nói đến!" Thế rồi Trần Dân Tiên (!) kết luận: "Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể lới cho tôi nghe bình sinh của Người được ?" Hay là đoạn nói về thời gian "khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên mười lăm tuổi", thế mà cậu bé 15 tuổi ấy đã đủ hiểu biết, đủ láo xược để phê phán cả các bậc tiền bối là những anh hùng lịch sử vào hàng cha chú mình, như các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu. Hay một đoạn nữa: "Và nhân dân Việt Nam muôn người như một, nghe theo lời Hồ Chủ tịch, vì họ hoàn toàn tin tưởng ở Hồ Chủ tịch, họ hoàn toàn kính yêu Hồ Chủ tịch. Không có gì so sánh được lòng dân Việt Nam kính mến tin tưởng lãnh tụ Hồ Chí Minh. Nhiều nhà báo và nhiều bạn ngoại quốc rất lấy làm ngạc nhiên trước lòng kính yêu của nhân dân Việt Nam đối với vị Cha già Hồ Chí Minh. Nhưng đối với chúng ta, người Việt Nam thì rất dễ hiểu."
Còn nhiều, rất nhiều "hạt ngọc châu" như thế nữa! Nhưng thôi, nhân tiện nói qua thế, chứ mục đích người viết bài này không phải để nói về cuốn sách "Những mẩu chuyện ...", mà để bổ sung thêm vài nét vào bức chân dung của ông Hồ Chí Minh nhân dịp tháng 5, kỷ niệm ngày sinh "của Người," dù biết tỏng tòng tong là cả ngày, cả tháng, cả năm sinh "của Người" đều là "phịa" (xin cho phép tôi dùng khẩu ngữ này, có nghĩa là bịa đặt trắng trợn), và thậm chí trong một thời gian nhiều năm, cả ngày chết "của Người" cũng là "phịa" nốt. Cố nhiên, trong trường hợp sau, "Người" không có lỗi. Nhưng, một con người mà ngày sinh, tháng sinh, năm sinh, cho đến ngày chết đều là "phịa" cả, thì có gì bảo đảm là "những mẩu chuyện" tự kể về mình lới là không "phịa" ? Nhưng dẫu sao chăng nữa, tháng 5 cũng là có dịp để "tưởng nhớ tới Người"! Vài "mẩu chuyện" mà tôi sắp kể đây là những chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh có liên quan đến "vấn đề phụ nữ" (dĩ nhiên, không phải vấn đề giải phóng phụ nữ đâu!), và không phải là thời kỳ ông ở Pháp, Nga, Trung Quốc (vì đã có khá nhiều bài báo viết về những thời kỳ đó rồi). "Những mẩu chuyện" này thuộc thời kỳ ông ở Việt Nam, và cũng chỉ vẻn vẹn trong vài năm thôi, sau khi chính quyền cộng sản tiếp thu những "vùng tạm chiếm" của Pháp ở miền Bắc.

MỘT ÁN MẠNG XE CÁN

Sau khi rời Hà Nội đi Moskva, theo học ở Trường đảng cao cấp của Trung ương đảng cộng sản Liên Xô hồi năm 1962, và nhất là sau khi tôi đã ra khỏi hàng ngũ đảng cộng sản hồi đầu tháng 6 năm 1964, trong lòng tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi một câu chuyện mà càng ngày tôi càng thấy rõ có cái gì đây đầy oan khuất, đầy mờ ám, rất là nghiêm trọng, mà bây giờ ở ngoài nước, trong hàng chục năm, lắm lúc tôi cảm thấy bó tay không thể nào tìm hiểu được. Chuyện thế này: hồi cuối những năm 50 đầu những năm 60, tôi là phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, thường ngày tôi xuống các cơ sở. Nhưng sáng hôm đó, tôi nhớ là vào đầu xuân, tôi phải đến thường trực tại Ủy ban, thì anh Nguyễn Quốc Hùng, ủy viên trong Ủy ban, phụ trách văn phòng, bước vào phòng tôi, hồi hộp nói: "Báo cáo anh có một việc xảy ra, có một người đàn bà bị xe ô tô cán ở đoạn đường Nhật Tân phía đi lên Chèm ..." Tôi đưa mắt nhìn Quốc Hùng, có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng không nói gì. Ngạc nhiên vì trong óc tôi thoáng một ý nghĩ, xe ô tô cán người ở Hà Nội chẳng phải là chuyện gì hiếm, sao anh ấy lại báo cáo với mình. Tôi im lặng chờ đợi. Quốc Hùng nói tiếp: "Nhưng mà, anh à, theo sự điều tra thì không phải là xe cán người, mà làm ra vẻ xe cán người ..." Dừng lại một lúc, anh nói thêm: "Mà ... theo báo cáo thì chiếc xe ấy lới chạy từ Chủ tịch phủ ra ..." Mấy tiếng cuối cùng "từ Chủ tịch phủ ra" đã gây cho tôi một cảm giác thật mạnh. Nhưng lúc đó, thật ra, tôi không hề có mảy may ý nghĩ là việc này có liên quan gì đến vị Chủ tịch nước mà hồi đó, tôi chân thành kính yêu và tin tưởng. Một ý nghĩ thoáng qua trong óc: hay là bọn phục vụ ở Chủ tịch phủ đã làm bậy bạ cái gì đây với chị kia, rồi giết đi và bày trò cán xe ? Suy nghĩ một lúc, tôi nói: "Theo quyết định của Trên, mọi vấn đề thuộc về công an, tòa án thì do bí thư Thành ủy giải quyết, nhất là những chuyện có dính dấp đến Trên, việc này không thuộc thẩm quyền của Ủy ban hay Thành ủy, vậy hôm nay, anh đến gặp anh Tuyên báo cáo ngay anh ấy biết để anh giải quyết thì hơn."

Hôm sau, gặp lại, tôi hỏi thì Quốc Hùng cho biết: đã báo cáo rồi và anh Tuyên bảo anh sẽ trực tiếp làm việc với anh Thân (Lê Quốc Thân, hồi đó là giám đốc Sở công an Hà Nội, về sau được thăng chức thứ trưởng Bộ công an). Khoảng một tuần sau, nhân gặp Trần Danh Tuyên, bí thư Thành ủy kiêm phó chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố, tôi tranh thủ hỏi về vấn đề đó, thì anh ta lạnh lùng gạt đi: "Thôi, việc đó xong rồi". Biết là không thuận lợi cho một cuộc trao đổi cởi mở, nên tôi im ... Khi đã ở nước ngoài, trong nhiều năm tôi cứ băn khoăn mãi về chuyện đó. 

Hồi tháng 7 năm 1993, khi gặp nhà văn Vũ Thư Hiên, một người "cùng cảnh ngộ", tức là cùng bị dính vào "vụ án xét lại - chống đảng", đã sang được Moskva, tôi mới đem chuyện đó kể ra. Hiên bật người lên, vui mừng ra mặt, dường như anh được thêm một người nữa biết cái chuyện "thâm cung bí sử " này và chuyện tôi kể cho anh lới một lần nữa xác nhận điều mà cụ thân sinh của anh, ông Vũ đình Huỳnh, đã dặn dò anh. Hiên nói liền: "Nhưng không phải ô tô từ Chủ tịch phủ phóng ra đâu, anh ạ. Mà từ phố Hàng Bông Nhuộm đi lên Nhật Tân ..." Tôi đáp lới: "Chính là Quốc Hùng nói với tôi thế !" Rồi Hiên thủng thẳng tâm sự với tôi: "Có một hôm, ông cụ tôi bảo tôi lên xe, chúng tôi đi lên Hồ Tây, rồi theo đường Quảng Bá đi lên đường Nhật Tân, chỗ làng đào, anh biết chứ ?" Tôi trả lời theo kiểu dân Bắc: "Biết quá đi, chứ lị! Từ 51, tôi phụ trách ngoại thành cơ mà". Yên trí là tôi biết rõ địa thế vùng này, anh kể tiếp: Dừng xe lại, hai bố con ra xe, ông cụ dẫn anh đến một đoạn đường, hình như một bên có rặng ổi, rồi bảo: "Con ơi, con nhớ những lời bố dặn đây ! Tới đây, đánh dấu một vụ án mạng, một vụ oan khuất khủng khiếp mà Trần Quốc Hoàn (ủy viên Bộ chính trị, bộ trưởng công an) là chính danh thủ phạm. Con hãy ghi nhớ, khi có dịp thì nói lên sự thật ..."
Câu chuyện đại để thế này: có một chị nữ thanh niên người Nùng ở Cao Bằng, tên là Nông Thị Xuân, được đưa đến "phục vụ" Bác Hồ, cô đưa em là Nông Thị Vàng và một cô em họ nữa về Hà Nội. Sau đó, cô Xuân đẻ cho Bác một đứa con trai, được đặt tên là Nguyễn Tất Trung, và còn có tin đồn, một đứa con gái nữa, tên là Nguyễn Thị Trinh ... Thế rồi Trần Quốc Hoàn hiếp cô Xuân tại nhà phố Hàng Bông Nhuộm, sau đó giết chết, rồi bày trò xe ô tô cán người tới đường Nhật Tân để lấp liếm tội ác. Sau khi cô chị bị giết, cô em chạy về Cao Bằng, rồi cũng bị giết nốt để "bịt đầu mối", và người em họ cô Xuân cũng không thoát khỏi bàn tay đẫm máu của nó. Người yêu của cô Vàng đã viết thư tố cáo hung thủ. Thật ra, những điều Vũ Thư Hiên kể tuy có rọi thêm vài tia sáng, nhưng vẫn chưa thỏa mãn được cái ý muốn tìm hiểu sự việc cụ thể của tôi, nên tôi vẫn tiếp tục cố làm sáng tỏ vấn đề này. Những năm gần đây, nhờ việc đi lại của người trong nước sang Nga được dễ dàng hơn, nên vài người đã kể cho tôi thêm những chi tiết rất có giá trị, bổ sung cho những điều tôi đã biết. Nhưng tất cả những điều đó chỉ là nghe lại của người này, người khác, không có chứng cứ nào, không có tài liệu cụ thể nào xác minh, giúp cho tôi được vững tin. May mắn là mới đây có một người quen cho tôi xem một tài liệu với nhiều chi tiết cụ thể xác nhận về cơ bản những điều tôi đã tìm hiểu được trong những năm qua. Sau khi cẩn thận xem xét kỹ tài liệu đó, tôi có thể tin tưởng ở tính chất chân thật của nó. Tài liệu gồm có một bức thư dài năm trang đánh máy của người chồng chưa cưới của cô Vàng đã bị giết, viết ngày 29 tháng 7 năm 1983 gửi ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kèm theo một bức thư một trang của một số thương binh, bạ cùng chiến đấu với anh ta, không đề ngày (có lẽ là gửi cùng ngày ?), gửi ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, đồng gửi ông Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng CSVN, ông Phạm Văn Đồng, Chủ tịch HĐBT và ông Phạm Hùng, Phó Chủ tịch HĐBT, tố cáo hành vi tội ác của bọn hung thủ đã giết hai nhiều người vô tội. Nhưng có một điều rất "kẹt" cho tôi là anh bạn cho xem tài liệu lại dặn tôi đến hai lần "đừng công bố bản tài liệu," cho nên tôi không thể làm trái ý "người chủ" tài liệu. Tuy nhiên, tôi mong rằng anh ấy sẽ nghĩ lại và tự anh hoặc nếu anh thấy không tiện cho mình thì giao cho một người nào khác sớm công bố toàn văn bản tài liệu đó để thực hiện ước nguyện của những người đã chết oan và của những người đã bất chấp nguy hiểm, "máu hòa nước mắt viết thư này" (lời trong thư). Phải nói rằng những người viết thư thật rất dũng cảm, đáng kính phục. Vì Chân Lý, người ta coi thường cái chết, khi viết những lời thật xót xa, đầy mai mỉa và thách đố đối với những kẻ cầm quyền và chế độ hiện tồn trong nước; những lời ấy vang lên như tiếng thét đau thương, ai oán, đã bị nhóm cầm quyền cộng sản dìm đi, bóp nghẹt trong hàng mấy thập niên rồi: "Chúng tôi, những thương binh đã đổ xương máu vì độc lập của quốc gia, tự do, công lý cho nhân dân, chúng tôi rất mong Ngài vì chân lý mà tìm ra hung thủ, xử lý thích đáng, treo cổ hung thủ công khai hoặc bí mật. Nếu trái lại, vì bè lũ, phải bao che cho hung thủ không trừng trị được bọn tàn ác này, thì chúng tôi xin phép Ngài phổ biến rộng rãi vụ bê bối này cho toàn thể thương binh và bộ đội biết để họ đổ xương máu bảo vệ NGAI VÀNG CỦA CÁC NGÀI. Và hơn nữa, chúng tôi sẽ tuyên bố vụ bê bối giết vợ Cụ HỒ CHÍ MINH này cho toàn thế giới biết để cả nhân loại tin tưởng vào chế độ ưu việt của các Ngài. Chúng tôi một số thương binh sống dở chết dở, vì vấn đề này mà các Ngài muốn bỏ tù hay thủ tiêu, chúng tôi không hề sợ, và có khi như vậy lại đỡ khổ cho chúng tôi." (đúng nguyên văn, kể cả những chữ hoa).

PHƯƠNG MAI

Viết đến đây, tôi nhớ đến Nguyễn Chí Thiện, đã liều mình, bất chấp mọi nguy hiểm, xông vào sứ quán Anh ở Hà Nội để đưa tập thơ của anh ra nước ngoài. Không có những con người gan dạnhư thế, làm sao bảo vệ Chân Lý và chống lại điều ác được ? Theo lời dặn của anh bạn, tôi không công bố toàn văn tài liệu đó. Nhưng những gì tôi tìm hiểu được trong mấy năm qua, nhờ sự giúp đỡ của anh chị em trong nước và được tài liệu kia xác nhận, tôi tự thấy mình có bổn phận chia sẻ với mọi người, cốt để làm sáng tỏ thêm sự thật đã bị che giấu 40 năm rồi và phần nào đáp ứng, dù là một cách quá muộn màng đi nữa, lòng mong mỏi cuối cùng của những oan hồn đang ngậm hờn ở thế giới bên kia. Hơn nữa, ngay ở trong nước, tờ báo bí mật, gan dạ Người Sài Gòn, "tiếng nói của nhân dân thèm tự do ngôn luận", năm ngoái cũng đã tung vấn đề này lên rồi trong bài "Viết cho Đào Duy Tùng". Và tôi tin chắc là nhà văn Vũ Thư Hiên cũng không thể bỏ qua chuyện này trong tập hồi ký "Đêm Giữa Ban Ngày" của anh. Có điều tôi muốn nói rõ là tội ác của bọn hung thủ đê tiện trong vụ thảm sát một loạt người này, tuy rùng rợn, khủng khiếp thật, nhưng lại không phải là đề tài chính của bài này, vì ý định của tôi chỉ là bổ sung thêm vài nét chân thực vào bức chân dung của vị Chủ tịch đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trước khi kể lới chuyện trên, tôi xin phép nói đến một chuyện khác, mới nghe thì thật tào lao, nhưng lới có thể giúp cho ta hiểu được nhiều điều. Nói chung, hồi đó, khi tôi còn ở trong nước, cán bộ ở miền Bắc (và có lẽ cả miền Nam nữa), ngay cả trong câu chuyện riêng tư, không hề dám hé răng nói bất kỳ chuyện gì về các lãnh tụ, ngoài những lời sùng bái, tán tụng, ngoài những khuôn sáo đã định sẵn, như "ơn Bác, ơn đảng", v.v... Sự sùng bái cá nhân các lãnh tụ đã được gieo cấy sâu đậm vào tiềm thức cán bộ và dân chúng đến nỗi mọi người cho rằng nói đến các lãnh tụ mà thiếu sự ca tụng, sự sùng kính, nhất là nói đến đời riêng của các lãnh tụ là điều "phạm húy" khủng khiếp, mà điều đó thì tối kỵ, trước tiên, vì ... rất nguy hiểm cho bản thân. Chỉ có một số cán bộ cao cấp nào đó thỉnh thoảng khi cao hứng mới có thể tự cho phép "đả động" nhẹ nhàng đến các lãnh tụ trong chừng mực ... "không bị đứt đầu". 
Cố nhiên, những việc như thế không phải là không nguy hiểm. Có một lần, tình cờ tôi được "dự" vào một cuộc "loạn đàm" như vậy. Hôm đó, sau một cuộc họp ở Thành ủy, mọi người ra về, chỉ còn lới ba chúng tôi: Trần Danh Tuyên, bí thư Thành ủy Hà Nội, Trần Vỹ, phó bí thư, và tôi. Đang nói chuyện linh tinh, bỗng Trần Vỹ hỏi khẽ: "Thế nào, việc Phương Mai đã xong chưa ?" Trần Danh Tuyên đáp: "Không xong". Trần Vỹ nói tiếp: "Cô ấy cũng sạch nước cản đấy chứ, sao lại không xong ?" Vui miệng, tôi cũng chêm vào một câu: "Sạch nước cản ... thế mà tướng Nguyễn Sơn lới chê là ngực lép kẹp, ăn thua gì !" Cả ba cùng cười, rồi Trần Danh Tuyên hạ giọng nói rất khẽ: "Cô ấy muốn đặt vấn đề đàng hoàng, nhưng mà ... Bác và các anh (ý nói Bộ chính trị) cho rằng Bác không lấy vợ thì lợi cho uy tín chính trị hơn".

Xin nói rõ chuyện như thế này: hồi đó, có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để việc "giải quyết sinh lý" được điều hòa thì tốt cho sức khỏe. Và sau Hiệp định Genève 1954, người ta chọn một người "kháu" nhất trong số nữ cán bộ trẻ, đó là chị Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hóa và đưa chị từ Khu Bốn ra Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Và như ta đã biết qua cuộc "loạn đàm," chị đặt vấn đề phải có hôn nhân đàng hoàng. Thế là ... việc không thành. Rồi chị được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ thương binh và ở luôn tại Hà Nội.

CÔ XUÂN BỊ GIẾT NHƯ THẾ NÀO ?

Bây giờ xin quay trở lới câu chuyện những cô gái ở Cao Bằng. Theo những điều người ta kể cho tôi trong những năm gần đây và được xác minh qua tài liệu đã xem thì có hai chi tiết hơi khác (các cô họ Nguyễn và cô Xuân chỉ có một con với ông Hồ), ngoài ra, các chi tiết khác về cơ bản đều giống nhau. Sự việc cụ thể như sau: cô Nguyễn Thị Xuân (tên gọi trong gia đình là Sang) và em họ, cô Nguyễn Thị Vàng, 22 tuổi, quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cuối năm 1954, đã tình nguyện vào làm công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Được mấy tháng thì ủy viên Trung ương đảng, chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần Trần đặng Ninh, gặp cô Xuân nói chuyện vài lần, rồi đầu năm 1955 cho xe đón cô Xuân về Hà Nội, "nói là để phục vụ Bác Hồ". Mấy tháng sau, cô Xuân cũng xin cho cô Vàng và cô Nguyệt (con gái của ông Hoàng Văn ựệ, cậu ruột của cô Xuân) về Hà Nội ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm. "Vì các vị lãnh đạo không cho chị Xuân ở cùng với Bác trên nhà Chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Bộ công an, trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của công an. Cuối năm 1956, chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung.

"Em có nhiệm vụ bế cháu", đấy là lời Vàng kể lới cho người chồng chưa cưới của mình trước khi cô bị giết. Và cũng nhờ Vàng đã kể lại, nên chúng ta biết được những sự việc sau đây. Khoảng mồng 6, mồng 7 tháng 2 năm 1957, Trần Quốc Hoàn đến, nói chuyện vu vơ một lúc, rồi giở trò ... kéo cô Xuân vào cái buồng xép, định hãm hiếp. Cô Xuân ú ớ la lên. Vàng hoảng sợ tru tréo, còn Nguyệt khiếp sợ quá co rúm lại ngồi ở trong góc. May lúc đó có tiếng cửa sổ nhà dưới xô sầm vào tường, Hoàn sợ, bỏ cô Xuân ra, rút súng lục ra dọa: "Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết". Rồi xuống thang, ra ô tô chuồn. Mấy hôm sau, Hoàn lại đến, lên gác, đi thẳng vào phòng, ôm ghì cô Xuân hôn. Cô Xuân xô nó ra: "Không được hỗn, tôi là vợ ông Chủ tịch nước". Nó nói: "Tôi biết bà to lắm, nhưng tính mạng bà nằm trong tay tôi" Rồi lấy súng dí vào ngực cô Xuân, nó rút ra sợi dây dù đã thắt sẵn thòng lọng tròng vào cổ cô Xuân kéo cô lên giường, tự tay lột hết quần áo, ngắm nghía, rồi hiếp cô. Cô Xuân xấu hổ lấy tay che mặt. Nó kéo tay cô và nói: "Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già, lại còn vờ làm gái".

Từ đó cô Xuân trở thành thứ đồ chơi trong tay Hoàn. Nó bảo cô Xuân dặn cho hai em phải biết câm cái miệng, nếu bép xép thì mất mạng cả lũ. Mấy chị em lúc bấy giờ rất sợ bị giết, bàn nhau. Vàng đề nghị mấy chị em trốn đi thì cô Xuân nói: "Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác: bây giờ đã có con trai, xin Bác cho mẹ con ra công khai. Bác nói: cô xin như vậy là hợp tình hợp lý. Nhưng phải được Bộ chính trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa ... Mấy tuần trước, Bác lới hỏi chị: các cô ở đây có nhiều người lạ mặt tới thăm phải không? Chị thưa: ba chị em không có ai quen biết ở Hà Nội, còn bà con ở Cao Bằng thì không có ai biết chị em ở đâu. Bác nói không nhẽ ông bộ trưởng công an nói dối ? Chị suy nghĩ mãi mới thấy rõ, nó muốn vu cáo chị em ta liên hệ với gián điệp hoặc đặc vụ gì đó, để định kế thoát thân nếu việc của nó bị bại lộ. Bây giờ ta trốn cũng không làm sao thoát tay nó, mà nó còn vu cáo giết hại anh chị em chúng ta. Chị bị giết cũng đáng đời, chỉ rất hối hận đã xin hai em về đây để chịu chung số phận với chị."

Đến ngày 11 tháng 2 năm 1957, vào bảy giờ tối, một chiếc xe com măng ca thường đón cô Xuân lên gặp ông Hồ đỗ trước nhà. Tên Ninh, biệt danh là Ninh Xồm, bảo vệ viên của ông Hồ, vào gặp cô Xuân nói "lên gặp Bác." Cô Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra xe. Xe do Tạ Quang Chiến (tên này trong đội bảo vệ ông Hồ, về sau làm tổng cục phó Tổng cục Thể dục thể thao) lái đi. Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên công an Hà Nội đến báo tin cô Xuân bị chết vì tai nạn ô tô, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phú Doãn. Vàng vội vã đưa cháu Trung cho Nguyệt bế, lên xe công an vào bệnh viện, nhưng không được vào nhà xác. Chờ độ một tiếng sau thì có người bác sĩ ra đọc biên bản, đại ý: trên thân thể tử thi không có thương tích gì, cũng không phải bị đánh chém gì. Mổ tử thi, trong lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì, dạ dày không có thuốc độc, tử cung không có tinh trùng, chứng tỏ không bị hiếp dâm. Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt, nước nhờn chảy ra. Bác sĩ nói: đây có thể là nạn nhân bị trùm chăn lên đầu, rồi dùng búa đánh vào giữa đỉnh đầu. Vàng nghe xong chạy về kể lại cho Nguyệt. Hai chị em cùng khóc ...
Ít lâu sau, một cán bộ công an đến bế cháu Trung đi, hai chị em không biết đem đi đâu. Sau đó, Vàng được đưa đi học lớp y tá của Khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên, còn Nguyệt thì Vàng không biết người ta đưa đi đâu, sống chết ra sao. Học được mấy tháng thì Vàng được chuyển về bệnh viện Cao Bằng và may mắn được gặp người chồng chưa cưới ở đây, kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Cô nói với người yêu: "Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu, anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết, vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng, có hôm em còn thấy thằng Ninh Xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít lâu họ tuyên bố em bị thần kinh, được chuyển về điều trị tới bệnh viện Hòa An."
Đây là lời người yêu, chồng chưa cưới của cô Vàng: "Tôi chỉ được gặp Vàng có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957, cô Vàng về thăm ông cậu Hoàng Văn Đệ, hung thủ đi theo, giết chết, rồi quẳng xác xuống sông Bằng Giang, đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở Hoàng Bồ. Được tin, tôi chạy về cầu Hoàng Bồ, thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận bàn tán, cô bị đánh vỡ sọ, tiền, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất. Vụ này nhiều người bị giết: cô Xuân vợ Cụ Hồ Chí Minh, cô Vàng vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở trường y tá Thái Nguyên, nghe chuyện Vàng đi nói chuyện lại cũng bị giết lây. Mấy chục năm nay, tôi tím gan thắt ruột nghĩ cách trả thù cho em tôi, nhưng sức yếu thế cô, đành ngậm hờn chờ chết ..."

Tiện đây, xin phép kể qua một chuyện ngoài lề có ý nghĩa. Hồi Vũ Thư Hiên còn ở Moskva, "người ta" dò biết là anh đang viết hồi ký, và hình như cũng đoán biết là anh có trong tay "những mẩu chuyện" nào đó. Thế là một hôm, "bọn trấn lột" người Việt đến nhà, chờ Hiên vào thang máy thì chúng ùa theo, đâm anh vào mông, giật chùm chìa khóa, rồi xông vào nhà. Chúng không đụng đến tiền bạc gì hết, mà chỉ tìm kiếm tài liệu và lấy các đĩa mềm máy tính, trong đó có phần hồi ký anh đang viết dở dang. Khi chúng đi rồi, Hiên gọi điện ngay cho tôi. Mấy hôm sau, anh lại báo tin rằng một tên gọi điện cho anh, bảo nếu muốn lấy lại đĩa mềm thì hãy "đến đấy, đến đấy" ở Moskva, mà theo lời anh, chỗ ấy là ... ngôi nhà chung cư của cán bộ nhân viên sứ quán Việt Nam tại Nga. Hiên nói để trấn an tôi: "Cũng may là tôi đã dự phòng trường hợp này rồi. Anh yên tâm". Sau đó không lâu, Hiên đến nhà đưa cho tôi đọc 74 trang hồi ky của anh. Và một thời gian sau nữa, anh lặng lẽ rời khỏi nước Nga, tìm nơi khác an toàn hơn để "đậu" ... Tôi kể chuyện này để thấy tính nhạy cảm cao độ của những-người-nào-đó đối với "những mẩu chuyện" không chảy theo luồng lạch của "lãnh đạo" và "người ta" sẵn sàng lao vào những hành động tội ác, điên cuồng, cực kỳ phiêu lưu, chỉ cốt để ... bưng bít sự thật.
Nhưng, vì chân lý, lẽ nào chúng ta có quyền chôn vùi, hoặc để cho ai đó được phép chôn vùi sự thật? Trái lại, bằng bất cứ giá nào, phải tìm mọi cách để trả về cho Lịch Sử những sự kiện chân thật, khách quan, không bị tô vẽ, không bị bóp méo, để mọi điều, mọi người đều được đánh giá đúng đắn và công bằng. Công Lý đòi hỏi như thế! 

NHỮNG CÂU HỎI VỀ HỒ CHÍ MINH

Còn về cháu bé Nguyễn Tất Trung thì sau khi mẹ chết, nó được gửi cho ông Nguyễn Lương Bằng nuôi, độ 4-5 tuổi thì chuyển cho ông Chu Văn Tấn, đến năm 13 tuổi là năm 1969, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất thì giao về cho ông Vũ Kỳ, nguyên thư ký riêng của ông Hồ, làm con nuôi và đổi họ thành Vũ Trung. Tôi xin phép bỏ qua những tình tiết khác và dừng lại ở đây, vì đến đây, cũng đủ để có thể rút ra vài kết luận sơ bộ có liên quan đến đề tài cần nói:
1) Tôi luôn luôn nghĩ rằng không nên "xoi mói" vào đời tư của người khác, kể cả đời tư của các lãnh tụ. Việc các lãnh tụ có vợ, có con là chuyện rất thường tình. Ông Hồ, cũng như bất cứ ông lãnh tụ nào khác, cũng như bất cứ người nào khác, đều có thể có cuộc sống tình dục, cuộc sống gia đình, có thể có vợ, có con, có thể ly dị với vợ, rồi lới lấy vợ khác... Những điều đó không ai nên can thiệp đến. Thậm chí, dù cho ông lãnh tụ nào đó có vợ rồi, lại đi ngoại tình, "cặp bồ" với ai đó, như trường hợp Lenin, hay vợ sờ sờ ra đấy mà vẫn ngang nhiên ngủ với gái, hết cô này đến cô khác, như trường hợp Mao Trạch Đông, hay đi hoang, rồi có con với người khác, như trường hợp Karl Marx, (những ví dụ này tôi không nói vu vơ, các sử gia và các nhà báo đứng đắn trên thế giới đã viết quá đủ, với những bằng chứng không thể chối cãi) thì cũng đáng phê phán đấy, nhưng cũng chẳng sao cả, trời không vì thế mà sập được! Chỉ có cái đầu óc ngu muội, phong kiến của cái đám lãnh đạo cộng sản kênh kiệu, tự coi mình là "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại" hay là "đỉnh cao trí tuệ loài người," mới nghĩ rằng phải tô vẽ cho lãnh tụ thành một ông thánh sống, là một con người siêu phàm, không vợ không con ... thì càng thêm uy tín chính trị.

Thế rồi cứ giấu kín cuộc đời riêng tư của các lãnh tụ như là bí mật quốc gia số một, hễ ai động khẽ đến là trừng trị tàn nhẫn. ựấy, cái vụ vừa qua đảng "xử trí kỷ luật" một cách thô bạo đối với Kim Hạnh, tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, chỉ vì báo đó dám nói sơ sơ chuyện ông Hồ có vợ hồi ở Trung Quốc, là một chứng minh cho cái đầu óc ngu dốt, độc đoán, lố bịch của cái đám ấy. Lẽ cố nhiên, cách xử sự của người đàn ông đối với phụ nữ, đối với vợ con phản ánh toàn bộ tư cách, phẩm chất, đạo đức của con người, và điều đáng nói, đáng xem xét đối với các lãnh tụ chính là ở đó.

2) Theo tôi, các cô gái Cao Bằng, cũng như anh chồng chưa cưới của cô Vàng cùng các thương binh bạn chiến đấu của anh đều rất ngây thơ, tưởng là ông Hồ định lấy cô Xuân làm vợ thật, tưởng cô Xuân là vợ của ông Hồ thật. Khách quan mà xét, ông Hồ không muốn có vợ đàng hoàng, ông chỉ muốn giữ cái "uy tín chính trị" hão của "bậc siêu nhân", ông chỉ muốn được "tiếng" vì dân vì nước đến nỗi suốt đời không mơ tưởng đến chuyện vợ con. Và điều này nói ra chua xót thật, nhưng không thể không nói: cô Xuân chỉ là món đồ chơi trong tay ông mà thôi. Cô Xuân được đưa về Hà Nội là để "phục vụ" ông Hồ, cũng như bao nhiêu cô gái Trung Quốc đã được đưa đến Trung Nam Hải để "phục vụ" ông Mao (Xem hồi ký "Tôi là bác sĩ riêng của Mao" của Lý Chí Tuy). Mồm ông Hồ nói nào là giải phóng phụ nữ, nào là chống tư tưởng phong kiến, tôn trọng phụ nữ, v.v... thế nhưng ông đã hành xử với phụ nữ cực kỳ phong kiến, coi phụ nữ chẳng khác gì món đồ chơi. Nhận xét như thế hoàn toàn không có tính chất vũ đoán, vì thử hỏi:
a. Nếu coi cô Xuân là vợ thật, tới sao ông lại không để cô ở chung tới ngôi nhà riêng của ông ở trong khuôn viên Chủ tịch phủ, mà bắt cô phải ở riêng mãi tận nhà 66 Hàng Bông Nhuộm, (ai biết rõ Hà Nội thì dễ dàng hình dung được khoảng cách) là nhà của công an, lại phải chịu dưới sự quản lý trực tiếp của bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn và chỉ khi nào ông cần "được phục vụ" thì cho xe đón cô lên Chủ tịch phủ mà thôi? Trong những n ăm đó, ông Hồ chưa đến nỗi thất thế tới mức phải để cho Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng Quốc Việt có thể can thiệp vào cuộc sống tình cảm của ông như vậy, có thể khống chế ông như vậy. Ông đường đường là lãnh tụ tối cao, là Chủ tịch đảng, cơ mà!

b. Nếu ông coi cô Xuân là vợ thật thì khi cô đẻ con trai rồi, tới sao ông vẫn để hai mẹ con ở riêng tận 66 Hàng Bông Nhuộm và khi mẹ nó chết rồi, ông không đem con về nuôi, mà lại đưa cho người này, người khác nuôi cho đến khi thằng bé lên 13 tuổi, là năm ông qua đời, thì "người ta" (cũng khó biết được là ai, Bộ chính trị hay là theo lời dặn của bố đẻ đứa bé?) lại giao nó cho Vũ Kỳ làm con nuôi? Và xin các bạn chú ý, Vũ Ky đã (chắc chắn là anh ta không bao giờ dám tự ý) đổi họ thằng bé thành Vũ Trung, xóa mọi dấu vết tội lỗi của một ông họ Nguyễn Tất! Ở đây, khách quan mà nói, dường như ông Hồ không có chút tình thương yêu nào đối với đứa con đẻ của mình. Một người như vậy làm sao có thể thương yêu trẻ con người khác được ?

3) Theo tôi, thật khó mà bác bỏ ý kiến cho rằng từ đầu đến cuối, ông Hồ cùng đám cận thần của ông, những ủy viên Trung ương, ủy viên Bộ chính trị, đã đánh lừa tệ hại cô Xuân, một cô gái quê ngây thơ ở miền núi, làm cho cô tưởng lầm ông định lấy cô làm vợ thật. Khi có con với ông rồi, cô xin cho hai mẹ con "được ra công khai" (chắc ý nói hợp thức hóa) thì một mặt ông làm ra vẻ thông cảm, thừa nhận yêu cầu đó là hợp tình hợp lý, nhưng mặt khác ông lại chỉ vào các ông trong Bộ chính trị mà nói là các ông kia có quyền quyết định chứ không phải ông, phải chờ ý kiến của các ông kia, làm như ông không phải là "lãnh tụ tối cao", không phải là Chủ tịch đảng, làm như ông ở dưới quyền mấy ông kia trong Bộ chính trị. Rồi ông còn khuyên nhẹ nhàng: "Cô đành phải chờ một thời gian nữa!" Và thật tội nghiệp cho cô Xuân, cô đã chờ, chờ ... đến khi bị giết!
4) Còn có nhiều điều khác mà trong tình hình hiện nay khó có thể tìm ra được lời giải đáp: Tại sao Trần Quốc Hoàn lại có thể có thái độ trắng trợn, đê tiện như thế đối với cô Xuân ? Dù cô không phải là vợ chính thức thì cũng là "bồ" (nói theo lối nói thông thường hiện nay ở Việt Nam) của lãnh tụ, cơ mà! Sao y lại có thể to gan phạm thượng đến như thế ? Hay là y đã thấy rõ tình thế bị "thất sủng" của cô Xuân, tức là cái thái độ không mặn nồng nào đó của ông Hồ đối với cô Xuân, nên mới bạo phổi làm chuyện bậy bạ đến thế ? Hay là y đã biết một quyết định nào đó … về cô Xuân, nên y nghĩ rằng "không xài thì phí của trời", trước sau rồi cô cũng chết ?

Còn câu hỏi mà ông Hồ đặt ra cho cô Xuân về những người lạ mặt thường đến chỗ các cô phải không, có ý nghĩa gì ? Có đúng là do bộ trưởng công an mớm cho ông hay không ? Việc giết cô Xuân, cô Vàng, cô Nguyệt ... là mưu đồ của cá nhân Trần Quốc Hoàn, hay là chủ trương của một tập thể, nếu là của một tập thể thì tập thể nào, và ông Hồ có được biết hay không ? Trách nhiệm của ông Hồ, của Bộ chính trị Trung ương đảng, của Bộ công an, của Trần Quốc Hoàn trong việc này như thế nào ? Khoảng thời gian từ khi cháu Trung được sinh ra (cuối năm 1956) đến ngày Hoàn tới dở trò hãm hiếp mẹ nó (mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957), cũng như từ ngày đó tới ngày mẹ nó bị giết (11 tháng 2 năm 1957) vì sao lại gần nhau đến thế ? Điều đó có ý nghĩa gì ? Vân vân và vân vân ... Hy vọng là rồi đây, các nhà thám tử Maigrets tài giỏi nhất, các chuyên gia về tội phạm có thể góp ý, góp sức, giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề. 

Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử đã có ảnh hưởng rất lớn đối với vận mệnh đất nước và nhân dân Việt Nam trong nhiều thập niên của thế kỷ 20. Dù muốn hay không, không ai có thể phủ nhận điều đó. Nhưng, ảnh hưởng đó là tốt hay xấu, hay vừa tốt vừa xấu, tốt nhiều xấu ít, hay ngược lại? Công trạng của ông thế nào, tội lỗi của ông ra sao, chỉ có công không có tội, hay là chỉ có tội không có công, hay vừa công vừa tội? Ông là vị thánh nhân, là bậc siêu nhân, hay là kẻ phàm phu, hay là tên giả dối, bịp bợm? Ông là biểu tượng của đạo đức với trái tim nhân ái, hay là một kẻ vô luân, vô đạo với lòng dạ bất lương?.. Tất cả những câu hỏi đó đòi hỏi một sự nghiên cứu khách quan, cẩn trọng, sâu sắc, tỉ mỉ, toàn diện, và cuối cùng... phải chờ Lịch Sử cân lượng, phán xét, Lịch Sử được đúc kết từ muôn ngàn sự kiện chân thật. Nhận thức sâu sắc điều đó, người viết bài này không mảy may có tham vọng đánh giá cuộc đời của vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ý muốn nhỏ nhoi đã được nói ngay từ đầu, chỉ là để góp thêm vài "mẩu chuyện", qua đó người đọc có thể thấy thêm được vài nét chân thật trên bức chân dung hoành tráng, đồ sộ của ông mà giới cầm quyền cộng sản Việt Nam từ trước đến nay đã dày công tô vẽ.
Nhưng, vì chân lý, lẽ nào chúng ta có quyền chôn vùi, hoặc để cho ai đó được phép chôn vùi sự thật ? Trái lại, bằng bất cứ giá nào, phải tìm mọi cách để trả về cho Lịch Sử những sự kiện chân thật, khách quan, không bị tô vẽ, không bị bóp méo, để mọi điều, mọi người đều được đánh giá đúng đắn và công bằng. Công Lý đòi hỏi như thế!
Ngày 10 Tháng Ba 1997
Nguyễn Minh Cần

 


Đóng góp ý kiến của Giáo sư Sử học Lê Văn Lan,

Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Miền Bắc.
Ngày 10/9/2005 tôi đã nhận được giấy mời (kèm theo những dự thảo văn kiện) tham dự Hội nghị đóng góp ý kiến cho những văn kiện lịch sử tại Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam. Là người trực tiếp nghiên cứu đề tài Lịch sử cận đại Việt Nam. Tôi xin phép được trình bày những ý kiến ngắn gọn và chủ chốt như sau:
1. Công bố toàn bộ bản Di chúc gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các phương tiện thông tin đại chúng.
2. Công nhận chính thức anh Nguyễn Tất Trung hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội là con trai duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi người là Chủ tịch nước (nhân chứng là gia đình ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ Tịch trong những năm cuối đời).
3. Đề nghị đồng chí Nông Đức Mạnh trả lời rõ ràng trước báo chí thế giới và trong nước về vấn đề nghi vấn đồng chí Nông Đức Mạnh là con của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn không có cơ sở lịch sử cũng như sinh học (có thể kiểm chứng ADN).
4. Đề nghị làm rõ sự liên quan của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Quốc Hoàn trong vụ án hiếp dâm và tai nạn xe (còn rất nhiều bí ẩn) tại Hà Nội mà người bị nạn là bà Nông (Nguyễn) Thị Xuân người Nùng thân mẫu của anh Nguyễn Tất Trung. Nhân chứng là:

- Ông Nguyễn Minh Cần - Cựu Phó chủ tịch Uỷ ban hành chính Thành phố Hà Nội.
- Ông Lê Giản - Bộ trưởng Nội vụ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
- Ông Lê Quốc Thân, hồi đó là Giám đốc Sở Công an Hà Nội, về sau là Thứ trưởng Bộ Công an.
- Ông Trần Danh Tuyên - Cựu bí thư Thành uỷ kiêm Phó chủ tịch Uỷ ban hành chính Thành phố.
Tôi biết rằng những ý kiến đóng góp của tôi có thể gây sốc cho nhân dân. Nhưng khi Đảng đã tin mà hỏi thì chẳng có lẽ gì mà không đặt vấn đề một cách thật tâm. Với một người mang nợ viết, nghiên cứu lịch sử thì khổ tâm nhất là không được nói thật và lừa dối nhân dân lao động, tôi mong rằng bức thư này sẽ đến tay nhân dân bằng mọi hình thức trước khi mọi việc được công bố để giảm sốc. Nếu có thể đề nghị anh Nguyễn Như Phong đăng lên báo An Ninh Thế giới, tuy không phải là một tờ báo về chuyên ngành lịch sử nhưng có số độc giả là người Việt cao nhất trong nước cũng như người Việt sinh sống và làm ăn ở nước ngoài.
Hà Nội, Ngày 10 tháng 12 năm 2005
Lê Văn Lan
Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử miền Bắc






Phỏng Vấn Nhân Vật Trực Tiếp Tham Gia Hai Cuộc Cách Mạng Tháng Tám

Bảo Vũ
 

“Trong cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam lúc bấy giờ tôi còn rất trẻ, 17, 18 tuổi thôi; cho nên ý thức chính trị cũng không rõ ràng lắm. Vì thế, khi tham gia cuộc cách mạng đó, tôi đã vô tình đưa Đảng Cộng Sản lên nắm chính quyền. Còn đến cuộc Cách Mạng Tháng Tám ở Nga, ngày 19 tháng 8 năm 1991, tôi tham gia cách mạng lúc bấy giờ với ý thức rất rõ ràng là để hạ bệ Đảng Cộng Sản xuống; vì tôi ý thức được rất rõ ràng sự thống trị của Đảng Cộng Sản gây ra bao nhiêu tai họa cho người dân.”
 
LỜI DẪN: Thưa quý thính giả, ông Nguyễn Minh Cần, người nói câu vừa rồi có lẽ là người Việt duy nhất từng trực tiếp tham gia hai cuộc cách mạng tại hai phương trời khác nhau: Việt Nam và Liên Sô.
Sau khi Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc, người “vô tình đưa Đảng Cộng Sản lên nắm chính quyền” vừa đề cập, đã nắm giữ một số chức vụ trong chính quyền ở miền Bắc, trong đó có chức Ủy Viên Thường Vụ Thành Ủy Hà Nội, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính Thành Phố Hà Nội và Chủ Nhiệm báo Thủ Đô Hà Nội.
Trong mục Thời Sự Quốc Tế Chủ Nhật tuần này và tuần tới, Bảo Vũ sẽ mời quý vị nghe quan điểm của nhân vật độc đáo này.
Tuy nhiên, trước hết chúng tôi xin nói qua về ông:
Ông Nguyễn Minh Cần sinh năm 1928 tại Huế, gia nhập Đảng Cộng Sản vào tháng Năm năm 1946.
Tuy nhiên, đến năm 1962, khi được gởi đi du học tại Liên Sô, vì bất đồng quan điểm với giới lãnh đạo Đảng, ông đã xin tỵ nạn chính trị.
Ông Nguyễn Minh Cần hiện cư ngụ tại thủ đô Mas Cơ Va của Nga.
Ông cho biết tiếp:
NGUYỄN MINH CẦN: Thực ra thì vai trò của tôi trong Cuộc Cách Mạng Tháng Tám ở Việt Nam cũng rất nhỏ. Lúc bấy giờ tôi vẫn chưa phải là đảng viên Cộng Sản.
Lúc đó tôi còn là một thanh niên 17 tuổi tham gia vào phong trào cách mạng vào thời kỳ đó. Tôi tham gia vào hồi sau tháng Ba năm 1945 tức là trước Cuộc Cách Mạng Tháng Tám. Cho nên vai trò của tôi rất nhỏ nhoi.
Nhưng thời buổi lúc bấy giờ thì cờ đến tay phải phất. Cơ hội nghìn năm có một để cho đất nước mình được giải phóng.
Vì thế những anh em học sinh, bạn trẻ của chúng tôi, 17,18 tuổi, tập hợp lại với nhau theo tiếng gọi nổi dậy để đi cướp chính quyền.
Lúc bấy giờ chúng tôi cướp chính quyền trong khu vực Thành Phố Huế; đồng thời tiến ra các vùng phụ cận của Thành Phố Huế.
Thời kỳ đó vai trò của tôi nó nhỏ nhoi như vậy.
Chúng tôi làm việc đó với tất cả tấm lòng của tuổi trẻ.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông tham gia Cuộc Cách Mạng Tháng Tám là ông tham gia theo lời kêu gọi của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Phải vậy không ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: Phải nói thật với anh rằng lúc bấy giờ Đảng Cộng Sản không hề ra mặt. Không hề ra mặt.
Lúc bấy giờ chúng tôi được tin ở ngoài Hà Nội đã vùng lên khởi nghĩa rồi. Trong Huế đồng bào rất sôi sục. Chính quyền lúc bấy giờ hầu như không còn nữa. Phải nói rằng tình thế lúc bấy giờ chính quyền cũ như là một trái cây chín muồi nó rụng xuống, ai muốn lượm thì lượm.
Thế cho nên chúng tôi hăng hái đứng ra làm việc ấy.
Tất nhiên cái đó cũng có sự liên quan và ảnh hưởng của những người cộng sản; vì lúc bấy giờ, tôi còn nhớ những người cộng sản có tìm cách liên hệ với chúng tôi.
Chúng tôi cũng tìm cách liên hệ với họ để hỏi ý kiến, trao đổi nhau. Chứ chúng tôi làm là làm với tinh thần như vậy.
Lúc bấy giờ rất nhiều người không hề biết có Đảng Cộng Sản lãnh đạo, hay có ai lãnh đạo hết.
Tình thế nó đến thì dân chúng nổi dậy.
Đấy là tinh thần chung của thời kỳ 45 nó như vậy.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông vừa nói là Đảng Cộng Sản không hề ra mặt. Thế nhưng các tài liệu tại Việt Nam thì nói rằng Đảng Cộng Sản đã lãnh đạo nhân dân để đứng lên lật đổ … để đứng lên làm cuộc cách mạng. Thưa ông như vậy thì vấn đề nó như thế nào ạ? Ong có thể vui lòng giải thích thêm ?
NGUYỄN MINH CẦN: Phải nói rằng Đảng Cộng Sản họ có vai trò của họ. Nhưng tình thế lúc bấy giờ ở nhiều địa phương chưa có Đảng Cộng Sản đâu ….
BẢO VŨ: Ở Huế thì sao ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: … Bây giờ mọi người cần phải biết là Đảng Cộng Sản lúc bấy giờ không đông.
Bây giờ trên sách báo (tại Việt Nam) người ta bảo rằng có 4.000 người trong Đảng.
Nhưng thực ra, sau này chúng tôi tìm hiểu và hỏi những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản hồi bấy giơ, thì họ bảo rằng thực tế chỉ độ năm, sáu trăm người trong cả toàn quốc.
Đảng Cộng Sản lãnh đạo ở phía miền Bắc thì có. Ở miền Trung rất là ít. Còn ở miền Nam thì tôi không biết.
Vấn đề ảnh hưởng của Đảng lúc bấy giờ thì chắc có lẽ là ảnh hưởng về mặt đường lối, chủ trương thế nào đấy.
Chứ còn người dân họ không biết, họ không nghe nói là cộng sản hay không cộng sản gì cả.
Cần nổi dậy là nổi dậy để cướp chính quyền. Cái tâm của người dân lúc bấy giờ nó như thế.
Còn bây giờ, tất nhiên người ta phải tuyên truyền vai trò của Đảng, phải nói rất mạnh mẽ, đầy đủ dẫn chứng này nọ.
Nhưng mà lúc bấy giờ Đảng Cộng Sản dấu mặt . Dấu mặt cho đến năm 1946 thậm chí Đảng Cộng Sản tuyên bố giải tán và lấy tên là Hội Nghiên Cưú Chủ Nghĩa Mác.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông nghĩ thế nào về chủ nghĩa cộng sản ?
NGUYỄN MINH CẦN: Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản là một tư tưởng. Nó đã xuất hiện trong ý niệm của con người từ xưa và dần dần cho đến nay vẫn còn.
Đó là ý niệm có tính chất không tưởng.
Người ta ước mơ có một xã hội tốt đẹp không còn giai cấp, không còn bóc lột, không còn giàu nghèo, tất cả đều giống nhau hết, v.v.
Trước đây, ngày xưa trong tâm trí của những người nghèo khổ họ đều mơ ước như vậy.
Nhưng mà nói về chủ nghĩa cộng sản của ông Mác, ông Lê Nin, của ông Hồ Chí Minh, của ông Mao Trạch Đông thì phải nói rằng đó là một chủ nghĩa đầy ảo tưởng.
Người ta tưởng rằng có thể tạo ra một xã hội tốt đẹp tốt đẹp như thế trên quả đất này bằng … Bằng cái gì?
Bằng xương, bằng máu, bằng đấu tranh giai cấp, bằng bạo hành, tức là bạo lực.
Nhưng mà kết quả cho ta thấy họ không đạt được xã hội tốt đẹp mà họ mong muốn.
Mà trái lại người dân phải tiếp nhận một xã hội đầy đau thương, đầy đau khổ, đầy nước mắt, đầy máu. Đấy là một thực tế.
Một thực tế khác nữa là: ở Liên Sô, ở nước Nga cũ đã chứng minh trong hơn 70 năm trời. Ở Việt Nam, ở Trung Quốc, ở Bắc Triều Tiên, ở Cuba thực tế cũng đã chứng minh rất rõ rệt những điều như thế.
Cho nên về chủ nghĩa cộng sản thì phải nói hai mặt: một ước mơ rất tốt đẹp của con người. Nhưng mặt khác, vấn đề thực hiện, áp dụng vào thực tế của ông Mác, ông Lê Nin, của ông Mao Trạch Đông, của ông Kim Nhật Thành, của ông Hồ Chí Minh, của ông Fidel Castro thì chúng ta thấy rằng nó chỉ đem lại xương máu cho đồng bào, đau khổ cho đồng bào mà thôi.
BẢO VŨ: Ông vừa nói chủ nghĩa cộng sản là thứ chủ nghĩa không tưởng. Bây giờ xin hỏi ông như sau: ông nhận xét như thế nào về người lãnh đạo cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 tại Việt Nam, tức là ông Hồ Chí Minh ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: Ong Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Tôi nghĩ rằng đã là nhân vật lịch sử thì để cho lịch sử, để cho nhân dân khách quan nhận xét. Tôi không phải là nhà sử học cho nên tôi không muốn đi sâu vào việc nhận xét ông Hồ Chí Minh.
Nhưng mà tôi muốn nói mấy điều:
Trước hết mình phải biết ông Hồ Chí Minh vẫn là một con người như tất cả những con người khác.
Người ta muốn huyền thoại hóa ông Hồ Chí Minh; và chính bản thân ông Hồ Chí Minh cũng muốn huyền thoại hóa mình.
Tôi nói điều đó để cho thấy là những điều về ông Hồ Chí Minh mà người ta nói ra chưa chắc đã thật, mà đó là huyền thoại.
Tôi nói “ông Hồ Chí Minh tự huyền thoại hóa mình” thì điều đó tôi nói có sách mách có chứng:
Chính ông Hồ Chí Minh tự nhận mình là nhà báo ký tên Trần Dân Tiên để viết về tiểu sử của mình, để tô đẹp cho mình, để tự coi mình là Cha Già Của Dân Tộc.
Đấy, điều đó cho thấy chính ông tự huyền hoặc mình.
Vì thế cho nên tôi muốn nói rằng phải nhìn vào con người Hồ Chí Minh như nhìn vào con người thật, tức là có mặt tốt, mặt xấu.
Bây giờ lịch sử càng ngày càng gỡ ra những mặt mà trước đây người ta huyền thoại hóa. Nào là ông ra đi để cứu nước cứu nhà.
Nhưng cho tới nay, bao nhiêu tài liệu lịch sử cho thấy những điều huyền thoại hóa đúng sai ra sao ? Sự thật lịch sử cho thấy những điều đó chẳng qua chỉ là huyền thoại thôi.
Nào là ông không vợ không con, một lòng một dạ, toàn tâm toàn ý, chỉ để cho cách mạng mà thôi. Nhưng bây giờ càng ngày người ta càng gỡ ra những việc trong đời tư của ông, v.v. và v.v. Tôi không nói hết.
Đó là một điểm. Điểm thứ hai nữa là những lời ông nói và những việc ông thực hiện khác nhau.
Chẳng hạn như trước khi làm cuộc Cách Mạng Tháng Tám, ông kêu gọi và ông nói rất nhiều, đồng thời hứa hẹn rất nhiều: nào là tự do, nào là dân chủ, nào là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, v.v.
Nhưng đến khi cầm quyền rồi thì những điều đó không được thực hiện. Không được thực hiện dưới thời của ông mà còn cả dưới thời những nguời kế tục ông nữa.
Cho đến bây giờ đất nước vẫn không có dân chủ.
Cho nên nhận xét về ông Hồ Chí Minh thì mình phải nhận xét khách quan trên tinh thần như vậy. Không nên huyền thoại hóa mà nên coi ông như con người, con người trong lịch sử và để cho lịch sử nhận xét.
Nói một từ cho thật xứng đáng là: hãy để cho lịch sử phán xét và đặt vị trí của ông đúng vào cái thực tế của lịch sử.
BẢO VŨ: Thưa ông, đất nước Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua đã trải qua rất nhiều biến động. Và một trong những biến động lớn nhất là cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945. Thưa ông các thế hệ sau này tại Việt Nam, tức là những thành phần sinh sau năm 1945, đặc biệt giới trẻ hiện nay tại Việt Nam có thể rút ra được bài học gì cuộc cách mạng đó ?
NGUYỄN MINH CẦN: Cuộc Cách Mạng Tháng Tám là một biến động rất lớn, nó thay đổi lịch sử của Việt Nam.
Biến động đó chứng tỏ lòng yêu nước của người dân Việt Nam. Tuy bị đô hộ trong suốt gần một thế kỷ; thế nhưng người dân vẫn nung nấu lòng yêu nước và chờ khi có cơ hội là vùng lên.
Điểm thứ hai là lòng thiết tha đối với dân chủ.
Không những người ta muốn thoát khỏi chế độ nô lệ, chế độ thuộc địa mà người ta còn muốn trở thành một con người thật, con người có quyền.
Tiếc thay, khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, người dân vẫn chưa có quyền thực sự; và cho đến nay người dân vẫn chưa có quyền thực sự.
Cho nên bài học Cách Mạng Tháng Tám là để cho giới trẻ ở đất nước ta thấy rằng, họ phải có phần đóng góp vào công cuộc chung để tiếp tục cuộc cách mạng đó.
Tức là làm sao để cho người dân có quyền, để cho người dân được hưởng dân chủ, được hưởng nhân quyền.
Nghĩa là nguời dân là một con nguời thực sự; được ăn nói tự do, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp.
Tự do thực sự chứ không phải sống dưới sự kìm kẹp của một đảng độc tôn nắm quyền.
Cho nên bài học lớn là: cuộc cách mạng chưa thành công đâu mà phải tiến tới hoàn thành nhiệm vụ dân chủ hóa nước nhà.
Trong vấn đề này, thanh niên phải có phần đóng góp rất quan trọng chứ không phải thờ ơ lãnh đạm đối với công cuộc của đất nước.
BẢO VŨ: Ông nói là cuộc cách mạng chưa thành công. Vậy theo ông liệu Việt Nam có cần một cuộc cách mạng nữa hay không, thưa ông ?
NGUYỄN MINH CẦN: Theo tôi không cần một cuộc cách mạng nữa, mà phải làm thế nào chuyển biến từ chế độ độc tài toàn trị của một đảng độc tôn …
BẢO VŨ: Làm thế nào để làm điều đó ?
NGUYỄN MINH CẦN: … trở thành ra một xã hội dân chủ. Tức là phải làm thế nào chuyển biến hòa bình sang một xã hội dân chủ. Sang một xã hội công dân thực sự.
Không cần phải làm cách mạng mới thực hiện được điều vừa đề cập.
Điều đó có thể thành tựu qua sự đấu tranh của dân chúng, bằng sự giác ngộ của dân chúng. Dân chúng đòi hỏi thay đổi.
Việc này rất khó, nhưng vẫn còn có thể làm được. Hiện nay tình hình càng cho chúng ta thấy rằng có thể làm được.
Vì sao ?
Vì Việt Nam bây giờ đã gắn mình vào trong thế giới chung; mà thế giới đó đang toàn cầu hóa.
Các cơ chế, các định chế quốc tế càng ngày càng áp lực vào xã hội Việt Nam, vào những nguời cầm quyền ở Việt Nam.

Giới cầm quyền Việt Nam muốn cố thủ vào vị trí lãnh đạo của họ, vào đường lối của họ.
Nhưng bây giờ, như chúng ta đang thấy, sức ép càng ngày càng mạnh và họ cứ lùi. Họ lùi một cách thủ đoạn. Nhưng mà thủ đoạn gì thủ đoạn; dần dần sức ép bên ngoài cộng với sức ép bên trong cũng sẽ làm cho họ thay đổi, và sự thay đổi đó có thể dẫn đến những sự thay đổi khác.
Cái đấy người ta gọi là chuyển biến hòa bình.
Diễn tiến hòa bình là điều mà giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay sợ nhất. Họ chống lại điều đó. Nhưng họ sẽ không chống lại được đâu, vì đó là quy luật chung trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay.

KẾT: Thưa quý thính giả, vừa rồi là quan điểm của ông Nguyễn Minh Cần. Trong phần thứ nhì, sẽ được phát vào Chủ Nhật tuần tới, ông sẽ đề cập tới những vấn đề như cuộc Cách Mạng Tháng Tám, nổ ra vào ngày 19 tháng 8 năm 1991 tại Liên Sô, vai trò của giới trí thức Việt Nam và Nga, v.v.
Mục Thời Sự Quốc Tế Chủ Nhật tới đây chấm dứt, Bảo Vũ xin kính chào và hẹn quý vị vào tuần tới.

XIN LƯU Ý: Vì thời lượng phát thanh dành cho cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Minh Cần có giới hạn; do đó phần âm thanh quý vị đang nghe ngắn hơn phần văn bản quý vị đang xem.
 
(Nguồn: http://www.doi-thoai.com/) Monday, 18 August 2003


 

No comments:

Post a Comment