Bình luận về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Bình luận về Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam

Friday, 15 June 2012

33.. BÙI TÍN * PHẢN BÁC HỒ TUẤN HÙNG


Bai 107: Bùi Tín : "Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo" của Hồ Tuấn Hùng

Đăng ngày: 18:26 02-04-2009
Thư mục: Ho Chi Minh
"Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo" của Hồ Tuấn Hùng:
Cuốn sách hoang tưởng gây nhiễu loạn
Bùi Tín
Một nhà "nghiên cứu lịch sử " tên là Hồ Tuấn Hùng người TQ sống ở Đài Loan, tháng 11-2008,  cho ra cuốn " Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo" (Nghiên cứu cuộc đời Hồ Chí Minh), dày 342 trang, chữ Hán, đưa ra nhận định giật gân, độc đáo là: ông Hồ Chí Minh từ Trung quốc về nước năm 1941 lập Việt Minh, rồi lãnh đạo Cách mạng tháng 8-1945, trở thành chủ tịch nước VNDCCH, chết năm 1969, không phải là ông Nguyễn Tất Thành ở Việt nam hồi nhỏ, rời VN năm 1911, không phải là ông Nguyễn Ái Quốc ở Moscow năm 1924-1925, sau đó về Hoa Nam hoạt động ở Quảng Châu - Hong Kong.
Ông này đã chết vì bệnh ho lao từ năm 1932.

Tác giả chứng minh rằng ông Hồ Chí Minh sau đó là một người khác, gốc Trung quốc 100%, người dân tộc Miêu Lật ở đảo Đài Loan, tên là Hồ Tập Chương, đã đóng giả Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc rất khôn khéo, trọn vẹn, đội danh Hồ Chí Minh cho đến khi chết ngày 2 tháng 9 năm 1969 ở Hànội. .

Theo tôi đây là một chuyện dựng đứng, bịa đặt, hoang tưởng, không có gì là nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh cả.

Tôi đưa ra vài dẫn chứng : sau khi ông Hồ về ở Hànội tháng 8-1945, bà Thanh chị ruột ông Hồ ra gặp ông, 2 người lập tức nhận ra nhau, và ông Hồ trở lại nói hoàn toàn giọng Nghệ An, với âm sắc riêng của vùng Thanh Chương - Nam Đàn, hỏi thăm  rất nhiều người trong họ đã chết và còn sống.

Bà Thanh còn nhìn 2 tai ông , mũi và cằm ông, nói :" đúng là 2 tai, mũi và cằm của thằng Coong thời trẻ".

Rồi năm 1957, khi ông Hồ về thăm quê cũ ở Kim Liên, ông đi ngay vào ngõ bên trái nhà ông khi xưa, không đi vào cổng mới làm sau này, sau đó tự ông sang lò rèn phía trái để hỏi thăm các cụ ở lò rèn xa xưa, nơi ông thường qua lại khi còn bé.

Làm sao một người Tàu quê ở đảo Đài Loan lại có thể nói tiếng Nghệ An, lại theo thổ âm Nam Đàn, và nhập vai trọn vẹn là em ruột bà Thanh, và về quê Kim Liên xa lạ, lại am hiểu địa hình và nhân vật làng quê cũ xa xưa thuần thục đến như vậy !

 Xin giáo sư Hồ Tuấn Hùng lý giải cho tôi được thông suốt..
Để cố tô vẽ một điều hoang tưởng thành sự thật, nhà xuất bản Đài loan khoe rằng tác giả là nhà nghiên cứu lịch sử nghiêm chỉnh(!), có 30 năm là giáo sư ở Khoa sử Đại học Quốc gia Đài loan, người cùng dân tộc Miêu Lật với ông Hồ Tập Chương ( là ông Hồ giả), đã nghiên cứu kỹ các hồ sơ của Anh, Nhật, Trung hoa, Việt nam trong nhiều năm trời...

Họ làm như thế để làm gì ?  Để bán sách? Một giả thuyết nữa, hay là những người có tư tưởng bành trướng Đại Hán bên Tàu muốn chuẩn bị tư tưởng cho dân Việt để - trong một tương lai gần hay xa, Việt nam sẽ "tình nguyện" một cách cưỡng bức thành một tỉnh của Trung quốc, với một lãnh tụ vốn dĩ là một người Trung quốc đặc sệt 100 % chánh hiệu(!).

Trên đời vẫn thường có kẻ nửa khùng nữa điên, kỳ quặc như thế.

Đây là sự xúc phạm rất ngang nhiên và tuỳ tiện ông Hồ, coi người lãnh đạo đảng CS Việt nam không ra gì, nhưng nhóm lãnh đạo ở Hà nội cắn răng chịu đựng, không thấy me - sừ Lê Dũng mở mồm . Chỉ khôn nhà dại chợ !
-0-0-0-0-0-0-0-0-0-
Còn chuyện Hồ Chí Minh là người dân chủ - cộng hoà (Domocrat+Republican) chứ không phải người cộng sản ?
                        Cũng chỉ là đảo ngược sự thật !



Trong cuộc hội thảo tại Hà nội từ 5 đến 7 tháng 12-2008 mang tên " Việt nam - Hội nhập và phát triển", một "học giả " Nhật bản làm một cuộc khảo cứu để đi đến kết luận rằng Hồ Chí Minh về cơ bản là người yêu nước chứ về cơ bản không phải là người Cộng sản (!), rằng ông Hồ là người theo chủ nghĩa cộng hòa hơn là theo chủ nghĩa cộng sản.

Không có gì sai lầm hơn ! Không có gì trái với sự thật hơn !

Đó là sự lầm lẫn bản chất với hiện tượng, lấy mặt nạ làm mặt thật, lấy mặt thật làm mặt nạ.

Trước khi từ Anh sang Pháp vào khoảng 1918, Nguyễn Tất Thành còn có thể là người theo chủ nghĩa dân tộc. Sau khi gia nhập đảng Xã hội năm 1920, rồi đảng Công sản Pháp, ông là người cộng sản. Từ khi sang Nga - 1924 - ông được huấn luyện, đào tạo có hệ thống thành một cán bộ cộng sản nòng cốt, từ đó ăn lương của Đệ Tam Quốc tế cộng sản.

Ông sùng bái Staline, sùng bái Mao Trạch Đông sâu đậm, cho cả đến khi tệ sùng bái Staline bị Đại hội đảng CS Liên Xô lần thứ 20 lên án năm 1956, xác Staline bị đưa ra khỏi lăng ở quảng trường Đỏ, cả sau khi Mao dựng lên cuộc cách mạng văn hóa vô sản điên loạn hồi 1964 - 1967...

Người ta dễ nhầm lẫn vì bản chất ông Hồ rất khôn ngoan đến mức có thể gọi là "xảo trá ", khi chủ trương " lạt mềm buộc chặt ", chiến thuật rất mềm dẻo, nhưng lập trường cộng sản rất kiên định - mù quáng, dễ đánh lừa thiên hạ.

Nhà triết học và nghiên cứu chính trị Pháp Jean François Revel Từng viết bài "Hồ Chí Minh - sự tước đoạt lòng yêu nước" ( HCM - le Détournement du Patriotisme) chứng minh rằng HCM đã lợi dụng lòng yêu nước của dân Việt làm công cụ phục vụ cho mục tiêu cộng sản của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản.

Điều này rất rõ, trước khi chết, trong di chúc ông đắn đo kỹ, và mong sẽ được về theo cụ Mác cụ Lénine của ông ta, chứ không về theo cụ Lê Lợi hay Trần Hưng Đạo, hay là Nguyễn Trãi.

Xin mời các bạn nghe lời giải thích về lời trứ danh nhất của ông Hồ  " Không có gì quý hơn đôc lập tự do " của Học viện Nguyễn Ái quốc - nay là Học viện Chính trị Quốc gia HCMinh - rằng : "ý  Hồ Chí Minh khi nói tự do là Tự do cho dân tộc, chứ không phải tự do cá nhân tư sản đồi truỵ" . Cho nên ông Hồ không chút quan tâm đến Tự do của người công dân cá thể, cho nên dân quyền và nhân quyền bị chà đạp là quốc sách của đảng cộng sản; tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do kinh doanh tệ hơn thời phong kiến, thực dân; không một người dân nào có hộ chiếu xuất cảnh, đảng CS một mình một chiếu, độc quyền ngự trị xã hội không có ai kiểm soát. Ông là ông trùm thủ tiêu Tự do.

Sự lạc hậu, lỗ hổng tệ hại về tự do, về quyền sống công dân kéo dài, đày đoạ xã hội ta hơn nửa thế kỷ, cho đến tận hôm nay, là một đặc điểm " đặc sắc " bi thảm nhất của thời đại Hồ chí Minh, khi đảng cộng sản lộng hành với đường lối toàn trị dai dẳng.
Phải chăng trước sự phá sản của chủ nghĩa CS ở Đông Âu và đặc biệt là ở gốc gác Liên Xô, phải chăng khi chủ nghĩa Cộng sản bị cả liên minh Châu Âu lên án nặng nề không kém gì chủ nghĩa phát xít, khi một nước cộng sản cũ như Balan công khai đặt chủ nghĩa CS ra ngoài vòng pháp luật, nhóm lãnh đạo đảng CS Việt nam vội vã nghĩ đến chuyện gỡ tội, chạy tội cho lãnh tụ của họ,  và cho chính bản thân họ ?
Rằng họ chỉ là những người yêu nước, dân chủ, cộng hoà !
Chậm quá rồi, các người ạ !
Bùi Tín .

Paris. 8-3-2009.



 




HCM, le détournement du patriotisme, Jean–François Revel (*)
Bùi Tín dịch
Lời người dịch: Một số bạn trong nước khuyên tôi không nên đụng đến ông Hồ, vì đó vẫn còn là thần tượng, là khu vực cấm, số đông trong nước còn chưa tỉnh. Tôi nghĩ khác.
Sự thật luôn cứng đầu và có sức thuyết phục. Sau khi nước ta vào WTO, sự công khai minh bạch trong sáng là nếp sống mới. Đã đến lúc không thể tiếp tục lừa dối nhân dân.
Phải nói lên sự thật, dù với ai đó, đó là những sự thật đau lòng, chua chát, cay đắng. Phục vụ đảng hay nhân dân? trung thành với đảng hay với nhân dân? Tôi đã lựa chọn, tôi đã dứt khoát chọn nhân dân, cho dù bộ máy công an và tư tưởng cuả đảng Cộng sản lại sẽ chụp mũ tôi là phản bội.
Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả bài này, J-F. Revel, một trí thức chân chính, đầy trí tuệ và nhân cách.

Hồ Chí Minh đã có thể được coi là anh hùng của nước Việt Nam hiện đại và dân chủ, đã có thể được coi là nhà lãnh đạo đã đưa đất nước của ông ra khỏi cảnh thuộc địa để bước lên nền văn minh mới, kết hợp truyền thống với đổi mới.
Nhưng khốn thay, mục tiêu của ông ta không phải là nền độc lập của nước Việt Nam, mà là sự hội nhập vào quốc tế cộng sản. Mục tiêu của ông Hồ không phải là dành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền chọn lựa người lãnh đạo, quyền có luật pháp của mình và lối sống của mình. Mục tiêu của ông ta là cưỡng bức nhân dân phải chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Stalin, với tất cả đặc điểm của nó : những cuộc hành quyết không qua xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm trong “cải tạo”, quần chúng chết đói và tham nhũng của kẻ lãnh đạo.
Hồ Chí Minh là một trong những người kiên định nhất trong áp dụng phương thức cai trị kiểu cộng sản suốt thế kỷ 20. Nội dung phương thức ấy là khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người : khát vọng tự do, thịnh vượng, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả ý nguyện ấy vào những mục tiêu hoàn toàn trái ngược với những khát vọng ấp ủ bởi quần chúng đã bị ông ta lợi dụng.
Khi quần chúng nhận được ra sự lừa đảo thì đã quá muộn. Họ đã bị cầm tù. Chính quyền độc đoán đã được thiết lập và cũi đã khóa chặt. Thật không có gì ma quái hơn là sự tước đoạt những tình cảm cao quý, những sự dấn thân đông đảo, những ý nguyện sâu sắc và chính đáng đầy nhân tính để đưa đến sự đầy đọa, bần cùng, ô nhục và đơn giản là Tội Ác . Chúng ta chớ quên rằng chế độ cộng sản là một trong những chế độ đẫm máu nhất, – cũng có thể là đẫm máu nhất, của toàn bộ Lịch Sử, bởi vì không một chế độ nào đã cai trị đồng thời nhiều nước đến vậy. Vào những năm 1980, hơn 2 tỷ người đã sống dưới ách cai trị dã man tàn bạo, và cũng bất lực vì sự ngu xuẩn của nó.
Dựa vào khát vọng tự do để ngự trị, đó là phương pháp Hồ Chí Minh, rất mực trung thành tuân theo phương pháp của nhân vật tồi tệ Lenin. Phương pháp này đã tàn phá những nơi khác : Cambốt (Cambodia), Êthiôpi (Ethiopia), Môzambich (Mozambique), Algiêri (Algeria), Cuba, Angôla (Angola). Đằng sau cuộc chiến tranh giải phóng, một cuộc chiến đấu dành quyền sống bình đẳng, trong đó các chiến sỹ thành thật hiến thân, luôn ẩn dấu âm mưu của những kẻ cầm đầu chống lại tự do và quyền con người.
Hồ Chí Minh có thật lòng tin ở sự tốt đẹp trong tương lai của chủ nghĩa cộng sản ? Tôi nghi ngờ điều này, bởi vì ông ta đã thấy chế đó đó vận hành ra sao trong nhiều nước. Có lý tưởng và cực đoan, có thể ông ta không tự đặt ra câu hỏi ấy. Và cũng như tất cả các nhà lãnh đạo độc đoán, ông ta vẫn giữ vẻ lương tâm thanh thản, cả trong khi nêu lên những mặt tiêu cực của chế độ ông ta đã lựa chọn. Lịch sử là hệ quả không phải của những ý định con người mà là của hành đông của họ. Mà những hệ quả thì sờ sờ ra đó, cảnh đọa đầy, máu chảy, chết chóc và nạn đói. Người ta không thể xin lỗi sau khi đã tước đoạt cuộc chiến đấu chống thực dân của quần chúng để dẫn đến cảnh tàn phá đến vậy. Trái lại, đó là một cuộc ăn cắp, một cuộc lừa đảo, với hoàn cảnh tăng thêm phần nghiêm trọng cho kẻ phạm tội.
(*) Trích từ bài Ho Chi Minh, l’homme et son héritage, Jean–François Revel, đăng trên Vietnam Infos, số 36, ra ngày 15/05/2006. Hồ Chí Minh, con người và di sản, của Jean–François Revel, nhà văn, nhà triết học Pháp, từng đứng hàng đầu cánh tả, mất ngày 30/04/2006, 82 tuổi.
THEO DÒNG SỰ KIỆN:
http://www.danchimviet.info/archives/2123



Đăng ngày: 13:15 05-08-2009
Thư mục: Ho Chi Minh

Cuối năm 2008, Giáo sư Hồ Tuấn Hùng ở Đài Loan đã “thả một quả bom” vào Việt Nam: ông ta tung ra cuốn sách nhan đề “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”, bảo rằng “Bác Hồ kính yêu” của mấy triệu đảng viên Việt Cộng thực ra là một người Tàu giả dạng, không phải là “thằng nhỏ tên Coong” con của Phó bảng Nguyễn Sinh Huy ở Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, năm xưa.
Chẳng những ba triệu đảng viên Việt Cộng xôn xao mà nhiều người Việt Nam ở trong và ngoài nước cũng bàn tán, ngờ vực, không biết thực hư thế nào.
Ở hải ngoại, cụ Bùi Tín, cựu đại tá Quân đội Nhân dân, cựu đảng viên CSVN, nay là nhà tranh đấu dân chủ ở bên Tây, vội vàng viết một bài bác bỏ luận cứ của ông tác giả người Tàu, cho rằng quyển biên khảo của ông ta chỉ là chuyện hoang đường. “Bác Hồ” chính là Hồ Chí Minh, là Nguyễn Tất Thành, là Nguyễn Ái Quốc, là Anh Ba, là Lý Thụy vân vân, và là “thằng nhỏ tên Coong” ngày xưa ở truồng chạy rông ở Nam Đàn, Nghệ An.
Để làm bằng cớ, cụ Bùi Tín kể rằng vào tháng 8 năm 1945, khi tiếp bà chị ruột từ Nghệ An ra Hà-nội thăm, Hồ Chủ tịch nói rặt giọng Nghệ An với âm sắc vùng Thanh Chương Nam Đàn, và hỏi thăm nhiều người bà con đã chết hay còn sống ở quê cũ. Bà chị xác nhận tai, mũi, cằm Hồ Chí Minh đúng là tai, mũi, cằm của “thằng Coong” thuở nhỏ. Năm 1957, khi về thăm sinh quán ở làng Kim Liên, Hồ Chí Minh xom xom đi ngay vào ngõ trái căn nhà ông bố khi xưa, không đi vào cổng mới làm sau này, và rồi lại tự động sang lò rèn bên cạnh hỏi thăm các cụ ở đây ngày xưa.
Cụ Bùi Tín hỏi Giáo sư Hồ Tuấn Hùng rằng làm sao một người Tàu quê ở Đài Loan lại có thể nói tiếng Nghệ An theo đúng âm Nam Đàn với bà chị ruột, và khi về vùng Kim Liên xa lạ lại am hiểu địa hình và các nhân vật tại đây như vậy.
Bài của cụ Bùi Tín phổ biến trên mạng điện tử chưa được tác giả Hồ Tuấn Hùng “lý giải” thì Bác sĩ Trần Văn Tích, một nhà “chống cộng cực đoan” ở bên Đức, đã viết bài “Chuyện kể kiểu Bùi Tín” để … xây dựng “đồng chí” cựu đại tá Quân đội Nhân dân là ngây thơ và kể chuyện “dật sự”, không bảo đảm có thật.
BS Trần Văn Tích viết: “Tôi tưởng tượng thay vì ‘lý giải’, tác giả Đài Loan lại hỏi ngược ông Bùi Tín rằng các dật sự ông vừa đan cử làm dẫn chứng là do Trần Dân Tiên, Trần Huy Liệu, hay do Đặng Xuân Trừng kể thì chẳng biết ông Bùi Tín sẽ trả lời thế nào. Tình huống này dường như chưa được rất nhiều người Việt Nam hiện nay nghĩ đến.”
Sau khi nhận định về ảnh hưởng của tuyên truyền chính trị trên tâm lý con người, BS Trần Văn Tích viết tiếp: “Những huyền thoại xã hội, những biểu tượng chế độ tác động lên tâm lý đám quần chúng bị bưng tai bịt mắt, bị nhồi sọ một chiều khiến cho các thành viên của dân tộc thường lặp lại những hình tượng tương tự mà cốt lõi tạo hình nằm trong noãn sào vô thức xã hội. Chế độ cộng sản tự ru mình trong những hư tưởng, ảo giác. Hô hấp một bầu khí quyển như thế, người công dân xã hội chủ nghĩa, tự tận cùng chiều sâu vô thức, rất sẵn sàng chấp nhận những dữ kiện lý lịch, những chi tiết hành trạng do guồng máy thông tin dối trá phịa ra, lăng xê ra để trang trí cơ chế cách mạng và đánh bóng con người tiến bộ. Có một thần tượng lớn, có những thần tượng vừa, có những thần tượng nhỏ. Đã có Tôn Thất Tùng, Lương Định Của, Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Ngữ còn có Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, Út Tịch, La Văn Cầu, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Cù Chính Lan, Nguyễn Thi Chiên, Ngô Gia Khảm, v.v.”
Cụ Bùi Tín đọc bài của BS Trần Văn Tích, vội vàng “đáp lễ” một cách bất bình: “Cần gì vòng vo tam quốc. Lại còn khái quát ‘kiểu Bùi Tín’!, lại còn ‘à la Bui Tin’! Bùi Tín chuyên có kiểu ăn nói tùy tiện? Không có cơ sở sự thật? Chỉ là tín điều à, thưa ông Tích? Oan cho tôi quá!
“Ông có tính bông đùa cho vui, hay ông nhận định ngiêm túc vậy? Tôi viết bài báo nào cũng có mục đích. Lấy sự thật làm đầu. Phục vụ bạn đọc – Thượng đế của tôi.
“Tôi nghe chuyện về cuốn sách của ông Hồ Tuấn Hùng nói về chuyện ông Hồ là người gốc Đài Loan đóng giả ông Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc như thật, tôi nghiên cứu kỹ, cho là chuyện hoang tưởng, tôi thấy cần lên tiếng. Ông bác bỏ ý tôi, thì nói cho rõ.
“Chính kiến tôi dựa vào nhiều cơ sở tôi cho là đúng, là thật. Tôi gặp ông Hồ hàng chục lần, nghe ông Hồ nói, được ông Hồ hỏi chuyện ít ra là 3 lần. Năm 1957, ông Hồ vào Vinh thăm Quân khu 4, thăm làng Sen quê ông, tôi được ông tướng Chu Huy Mân giao cho viết sẵn bài viết để chuẩn bị cho ông Hồ nói chuyện với bộ đội, kể ra vài thành tích giúp dân của bộ đội Quân khu 4; ông Hồ nhận bài chuẩn bị, hỏi tôi vài điểm, rồi khen vui: ‘Chú văn hay chữ tốt đấy! Nhưng Bác nói chứ không đọc đâu!’ Hôm ông Hồ về thăm quê, tôi đi theo, ghi chép cuộc du hành này, khi ông tự ý đi tắt vào cổng cũ, rồi ra giếng nhà sau bên lò rèn.”
Không biết vì viết trong lúc nóng giận, hay vì coi thường “bạn đọc – Thượng đế của tôi” mà bài “đáp lễ” của cụ Bùi Tín viết rất lủng củng, chấm, phết, chấm than lung tung, và viết sai chính tả (ngiêm).
Đọc bài “đáp lễ” của cụ Bùi Tín, ngày 29.3.2009, BS Trần Văn Tích lại viết bài “Lịch sử và Dật sự” để “phản hồi các phản hồi” như sau:
“Trong khi vấn đề ông Hồ Chí Minh vốn người Nghệ An là một sự kiện lịch sử thì các chuyện do ông Bùi Tín nêu ra lại thuộc loại dật sự. Dật sự thường là chuyện kể gọn gàng về một sự kiện thú vị, lạ lùng, có ý nghĩa, ít người biết. Dật sự có thể mang tính chân lý lịch sử nhiều hay ít. Vua Lê khởi nghĩa đánh quân Minh là một sự kiện lịch sử. Chuyện Ngài được rùa thần trao cho gươm báu là một dật sự. Cho nên khi dạy chúng ta môn sử ký, thầy cố giáo thường mở đầu: ‘Tương truyền một hôm …’
“ … nay được đọc dật sự về chuyện hai tai, hai mắt và cằm của chú bé hồi nhỏ tên Coong với nhiều chi tiết mới thì tôi chuyển sang tin dật sự liên hệ hơn trước chút chút. Nhưng chuyện ông Hồ nói tiếng Nghệ An theo đúng thổ âm Nam Đàn thì tôi lại vẫn chưa có thể tin ông Bùi Tín nhiều hơn. Với những thủ đoạn độc đáo của các cơ quan phản gián, khi có một thời gian dài hàng chục năm, kế hoạch đào tạo ra một người nói đặc giọng Nghệ An không phải là bất khả thi. Nếu người Tàu bắt cóc vài ba thanh niên thanh nữ Nam Đàn rồi đem về cho ‘tam cùng’ với nhân vật được chỉ định đóng vai ông Hồ thì người lên ngôi Chủ tịch nước Việt Nam sau này có thể nói đặc giọng Nghê An lắm. Cựu Thủ tướng nước Đức Gerhard Schroder có người chị họ tên Renate G. sinh sống trong vùng Đông Đức cũ và được cơ quan Stasi (Mật vụ Đông Đức) tuyển làm nhân viên Toán 26, Ban 5, qui tụ mười bốn điệp viên. Chỉ cần hai năm, Stasi rèn luyện chu đáo, huấn nghệ kỹ lưỡng để bà trở thành một mật báo viên đắc lực nói lưu loát tiếng Anh đúng giọng Oxford của giới ngoại giao. Phản gián Bắc Hàn từng bắt cóc nhiều người Nhật Bản để các điệp viên của họ thực tập sống theo cách Nhật. Đến đây lại phải xin nhắc thêm là lập luận thế này không có nghĩa là tôi tin tác giả sách Hồ Chí Minh sinh bình khảo.”
Thợ Hồ cũng không tin, dù chưa đọc cuốn sách của ông Hồ Tuấn Hùng, vì có sẵn thành kiến với mọi thứ “chuyện Tàu” và vì có “trực giác” rằng Hồ Chí Minh, tức Nguyễn Tất Thành, tức Nguyễn Ái Quốc, tức Anh Ba, tức Lý Thuỵ, tức Trần Dân Tiên, tức vân vân và vân vân… chính là “thằng nhỏ tên Coong” năm xưa ở Nam Đàn, Nghệ An.
Chính nó chứ chẳng phải ai! Chính nó đã đem Mác Lê vào Việt Nam và gây ra bao tai ương, khổ đau, chết chóc cho dân ta, nước ta.
Thợ Hồ chỉ không đồng ý với cụ Bùi Tín một điều là thay vì đem “dật sự” ra để chứng minh “Bác Hồ” chính là “thằng nhỏ tên Coong”, và tranh cãi với BS Trần Văn Tích, cụ nên viết thư cho đồng chí Nông Đức Mạnh, con rơi của “Bác Hồ”, đương kim Tổng Bí thư Đảng CSVN, ra lệnh “thẻo” một miếng thịt trên cái xác ướp của “bác” đem thử DNA lấy từ xương khô của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, cha của “thằng nhỏ tên Coong”, chôn tại vùng Cao Lãnh ở miền Nam, là biết ngay 100 phần 100 sự thật. Vừa khoa học, vừa khỏi mất thì giờ tranh cãi, gây mất hòa khí trong khi các “nhà dân chủ” ở hải ngoại cần đoàn kết để tranh đấu thành lập một chế độ tự do, đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam cho quý vị về kiếm ghế.
Đồng chí Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh cũng sẽ tán thành việc thử DNA ngay để ba triệu đảng viên khỏi hoang mang, biết chắc chắn “Bác Hồ vô vàn kính yêu” chính là “thằng nhỏ tên Coong ở Nam Đàn Nghệ An” ngày xưa mà yên tâm ăn hối lộ, thụt két, làm giàu trong thời buổi kinh tế thị trường theo… định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ Bùi Tín cũng không bị BS Trần Văn Tích lật tẩy: “Ông Bùi Tín từng là Đại tá trong Quân đội Nhân dân, ông từng làm báo ở Việt Nam. Đó là hai sự kiện lịch sử. Tôi tin hai sự kiện này gần 100 phần trăm. Nhưng khi cụ Võ Tử Đản ở làng Nại Cửu tỉnh Quảng Trị lên tiếng tố cáo ông Bùi Tín từng chỉ huy du kích đến bắt cóc thân sinh cụ Võ dẫn đi thủ tiêu thì đó là một dật sự. Chuyện ông Bùi Tín vào tiếp thu Dinh Độc Lập và nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh cũng là một dật sự nốt. Hầu như ai cũng tin ông Bùi Tín từng là sĩ quan cấp tá, hầu như ai cũng tin ông Bùi Tín từng làm báo. Nhưng không phải ai cũng tin hai chuyện thủ tiêu người và tiếp thu dinh liên quan đến ông Bùi Tín. Tất nhiên tỷ lệ giữa hai thành phần tin và không tin các dật sự này thay đổi tùy theo suy nghĩ, lý luận của từng người. Cá nhân tôi tin cụ Võ Từ Đản đến 90 phần trăm nhưng chỉ tin chuyện tiếp thu Dinh Độc Lập có 10 phần trăm.”
Cụ Bùi Tín còn đợi gì mà không yêu cầu đồng chí Nông Đức Mạnh cho thử DNA xác ướp “Bác Hồ”? Và, nếu Nông Đức Mạnh không dám cho thử DNA thì ông giáo sư Tàu Đài Loan nói sự thực.
Nguồn trích dẫn (0)
http://vn.360plus.yahoo.com/Hot-New/arti





Cựu đại tá Bùi Tín nói về ông Hồ Chí Minh
2007.05.18
Trà Mi, phóng viên đài RFA
19/5 năm nay đánh dấu 117 năm ngày sinh cố chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Việt Nam. Công luận trong và ngoài nước từ lâu đã xuất hiện hai luồng nhận định khác nhau về ông. Một bên cho rằng cụ Hồ là một anh hùng vĩ đại, còn một bên lại tố cáo ông có tội với dân tộc, gây đau thương cho biết bao nhiêu người.
Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này

Tải xuống để nghe



Ông Bùi Tín, đại tá Quân Đội Nhân Dân hồi năm 1975. Hình của ông Bùi Tín.
Để tìm hiểu thêm về nhân vật lịch sử này, Trà Mi trao đổi với cựu đại tá Bùi Tín, từng là đảng viên với hơn 4 thập niên tham gia Đảng cộng sản và 37 năm góp mặt trong Quân đội Nhân dân. Với các trọng trách đựơc Đảng giao phó như Phó tổng biên tập báo Quân đội nhân dân và báo Nhân Dân, cũng như Tổng Biên tập báo Nhân dân Chủ Nhật, ông Bùi Tín từng có nhiều dịp tiếp xúc, gặp gỡ với Hồ Chủ tịch.

Ngoài ra, do mối quan hệ mật thiết giữa thân phụ của ông với lãnh tụ Hồ Chí Minh, nên ông cũng có cơ hội được biết khá nhiều về cụ Hồ. Ông cũng chính là tác giả của rất nhiều tác phẩm viết về cuộc đời và sự nghiệp của nhà cách mạng nổi tiếng này. Trước tiên, ông Bùi Tín nêu lên nhận xét chung về Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Cựu đại tá Bùi Tín: Ông Hồ Chí Minh là một nhà chính khách, một nhân vật lịch sử mà hiện nay trong và ngoài nước có những đánh giá trái ngược hẳn nhau.

Một số người ca ngợi ông ta đến mức như thần thánh, như một con người tuyệt đối không bao giờ có sai lầm. Trong khi đó, cũng có những người xem ông ta là một nhân vật tiêu cực và gây ra những tàn phá ghê gớm cho đất nước.

Đạo đức, nhân cách
Trà Mi: Là một người từng sống và làm việc theo lý tưởng HCM, ông nhận xét như thế nào về tư tưởng HCM, về đạo đức, nhân cách của cụ Hồ?

Càng về sau, ông Hồ càng trở thành một nhân vật thực hiện sứ mạng do quốc tế cộng sản giao cho, tức là gây dựng và phát triển phong trào cộng sản ở Việt Nam, Đông Dương, và mở rộng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Con đường ấy, theo tôi bây giờ, đó là con đường sai lầm, đưa đất nước vào tình hình khó khăn sau này.

Cựu đại tá Bùi Tín

Cựu đại tá Bùi Tín: Sự đánh giá của tôi về ông Hồ là cả một quá trình thay đổi khác nhau. Trước đây khi còn ở trong nước thì khác. Dần dần, qua sự so sánh và nghiền ngẫm thì cách nhìn của mình trở nên đúng mức hơn, công bằng và khoa học hơn.
Tôi coi ông ta không phải là thần thánh, chỉ là một con người bình thường như mọi người khác, tức là cũng có ưu điểm và khuyết điểm, có những đóng góp tích cực và tiêu cực. Về tư tưởng, nhiều người cho rằng ông ta không phải là một người yêu nước. Còn tôi, tôi khẳng định ông ta là một nhân vật yêu nước, nhất là thời trẻ của ông.

Theo tôi, khi ông Hồ sang Pháp năm 1911 lúc đầu không phải vì mục đích đi tìm đường cứu nước. Lúc bấy giờ ông ta gặp phải một bi kịch gia đình. Ông cụ là tri huyện Bình Khê vì đánh chết nông dân nên bị đuổi ra khỏi ngành quan lại, tha phương ở phía Nam. Mất chỗ dựa, ông Hồ quyết định ra đi tìm kế sinh nhai và giúp đỡ gia đình.

Nhưng đến khi sang Pháp, khi tiếp xúc với nhóm các ông như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, cụ Phan Chu Trinh, lúc ấy, tôi nghĩ ông ta là người yêu nước, nhất là khi ông ta đứng ra làm tờ báo Những người cùng khổ, bảo vệ những người dân thuộc địa để chống thực dân Pháp, tôi cho rằng hành động này là trên lập trường yêu nước.
Thế nhưng cho đến khi ông sang Maxcơva năm 1924, trở thành nhân vật của đệ tam quốc tế cộng sản, thì tôi nghĩ, lúc ấy ông vẫn là một người yêu nước, nhưng không phải là một người yêu nước theo chủ nghĩa quốc gia, mà theo chủ nghĩa cộng sản.
Càng về sau, ông Hồ càng trở thành một nhân vật thực hiện sứ mạng do quốc tế cộng sản giao cho, tức là gây dựng và phát triển phong trào cộng sản ở Việt Nam, Đông Dương, và mở rộng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Con đường ấy, theo tôi bây giờ, đó là con đường sai lầm, đưa đất nước vào tình hình khó khăn sau này.

Ví dụ như cho đến nay, dân tộc Việt Nam ta còn quá lạc hậu về mọi mặt, từ mức sống, nhân quyền, dân quyền. Tôi nghĩ cái đó thuộc về trách nhiệm của ông Hồ rất lớn, vì đã nhầm lẫn đem một học thuyết từ Liên Xô cũ về áp dụng đến gần nửa thế kỷ nay. Bây giờ, học thuyết này đã đựơc chứng minh bằng thực tế rõ ràng là chủ nghĩa cộng sản, về mặt lý luận, xây dựng một xã hội tốt đẹp không có người bóc lột người chỉ là ảo tưởng thôi.


Chủ nghĩa cộng sản bây giờ, ở ngay nơi cốt lõi của nó là Liên Xô, cũng đã sụp đổ. Ở một loạt các nước Đông Âu, nó cũng hoàn toàn bị tan rã. Tại Việt Nam, theo chủ nghĩa này, một lý luận đựơc ông Hồ nói nhiều nhất là Việt Nam bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa đến tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.


Trải qua nửa thế kỷ, sau khi ông Hồ mất rồi thì đảng cộng sản mới thay đổi hẳn lại, tức là từ bỏ việc tiêu diệt tư nhân, tư hữu để quay trở lại với kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản đến mức quá đáng là những đảng viên từ chỗ theo chủ nghĩa tập thể, bây giờ trở thành những nhà tư sản, có đất, có nhà cửa, có tư hữu bằng con đường tham nhũng chẳng hạn, để cho người dân Việt Nam đến nay có độc lập nhưng vẫn chưa có đựơc tự do của người công dân, chưa có xã hội công dân, chưa có tự do báo chí, tự do bầu cử, tự do tôn giáo..v.v..Tôi nghĩ, đấy là trách nhiệm, là mặt tiêu cực của ông Hồ còn lại, mà chúng ta cần phải nhận ra.


Ông Hồ Chí Minh, ông Bùi Bằng Đoàn (thân phụ ông Bùi Tín) trưởng ban Thường Trực Quốc Hội và tướng Võ Nguyên Giáp tại lễ phong quân hàm Đại tướng cho ông Giáp - Việt Bắc - 1948. Hình của ông Bùi Tín.


Chủ nghĩa sùng bái cá nhân
Trà Mi: Ở Việt Nam lâu nay có phong trào sùng bái cá nhân HCM đến mức gần như là huyền thoại hoá hình ảnh của vị lãnh tụ này. Tại sao lại có tệ sùng bái, mà theo nhiều người, đến mức quá đáng như vậy, thưa ông?

Cựu đại tá Bùi Tín: Đó là theo sùng bái cá nhân của học thuyết chủ nghĩa cộng sản. Trước đây, người ta sùng bái ông Mác, Lênin, Stalin, và đến ông Hồ, xem ông ta là một con người tuyệt đối thánh thiện và không có gì sai lầm cả.

Họ cốt làm việc ấy chỉ để duy trì hình ảnh hợp pháp của đảng cộng sản trong khi ở thế giới người ta đều biết rõ là chủ nghĩa cộng sản và học thuyết Mác-Lê đã tệ hại ra sao. Bây giờ, cả Châu Âu đã ra nghị quyết lên án chủ nghĩa cộng sản hiện thực. Chủ nghĩa cộng sản bị cấm không đựơc truyền bá ở Ba Lan chẳng hạn.


Ở Mỹ không cho những người cộng sản nhập tịch vào nước Mỹ. Tháng 6 tới đây sẽ khánh thành tượng đài kỷ niệm những nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản trên khắp thế giới trong đó có hơn 30 triệu người Nga, 40 triệu người Trung Quốc, cùng các nạn nhân tại Việt Nam của các vụ án chính trị, của Cải cách ruộng đất..v..v.

Cả nhân loại văn minh, khi đã biết rõ chủ nghĩa cộng sản đã đựơc thực hiện và gây tai hoạ như thế nào, người ta còn ví von là nó còn tệ hại hơn chủ nghĩa phát xít nữa cơ mà.

Đâu là sự thật?
Trà Mi: Xung quanh hình ảnh của nhân vật Hồ Chí Minh có rất nhiều huyền thoại cũng như những lời đồn đãi khác nhau khiến cho nhiều người trẻ bối rối không biết đâu là sự thật. Theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của ông, ông có những gì muốn chia sẻ với quý thính giả, đặc biệt là thế hệ trẻ?

Cựu đại tá Bùi Tín: Tuổi trẻ bây giờ quan trọng nhất là cần có tư duy độc lập. Tất cả những gì mình tiếp thu đựơc nên sàng lọc qua bộ óc, suy nghĩ của mình xem đúng hay sai. Về việc họ ca ngợi đạo đức HCM, tôi nghĩ tuổi trẻ cần phải biết rõ là ông Hồ trong hoạt động cách mạng đã có sai lầm lớn tức là giả dối nhiều lắm.
Tuổi trẻ bây giờ quan trọng nhất là cần có tư duy độc lập. Tất cả những gì mình tiếp thu đựơc nên sàng lọc qua bộ óc, suy nghĩ của mình xem đúng hay sai. Về việc họ ca ngợi đạo đức HCM, tôi nghĩ tuổi trẻ cần phải biết rõ là ông Hồ trong hoạt động cách mạng đã có sai lầm lớn tức là giả dối nhiều lắm.

Cựu đại tá Bùi Tín
Một ví dụ đơn giản là ông ta tự viết ra quyển sách nói về tiểu sử của mình, ký tên là Trần Dân Tiên. Trong đó viết rằng bác Hồ rất khiêm tốn, không muốn nói gì đến cá nhân của mình cho nên tác giả phải đi tìm hiểu từ những người khác xung quanh để viết về HCM. Ngoài ra, trong đó còn ghi là HCM không có vợ còn, suốt đời chỉ nghĩ đến dân tộc, thế nhưng thật ra, ông ta có nhiều vợ.


Điều này đã đựơc chứng minh đầy đủ như ông ta đã cưới bà Tăng Tuýêt Minh ở Quảng Châu, Trung Quốc, có rõ cả ngày giờ, giấy hôn thú, ảnh và thư từ cơ mà.

Rồi sau này, khi ông về Hà Nội rồi, người ta cũng biết là chính ông Trần Quốc Hoàng đã bố trí cho ông Hồ một cô tên là Nông Thị Xuân, hàng tuần lễ vào gặp ông, và ông Hồ đã có con là anh Nguyễn Tất Trung năm nay đã hơn 50 tuổi. Tất cả những chuyện đó, tôi nghĩ là chúng ta cần phải biết, tuy là chuyện riêng nhưng cũng phải biết để đánh giá.

Những tài liệu cấm lưu hành


Trà Mi: Những điều ông nói có những tài liệu nào xác thực cụ thể, và những tài liệu đó bây giờ đang ở đâu?

Cựu đại tá Bùi Tín: Những tài liệu ấy Hà Nội cấm lưu hành, nhưng hiện nay trong giới nghiên cứu thì người ta biết cả rồi. Nhất là trong những tài liệu đựơc công bố ở Trung Quốc của các học giả ở Hoa Nam đã nói về mối tình và đám cưới giữa ông Hồ và bà Tăng Tuyết Minh. Bà Minh sống đến 94 tuổi.

Trước đó mấy mươi năm, bà còn muốn tìm liên lạc để gặp lại ông Hồ, thế nhưng ông Hồ không đựơc phép và cũng không muốn. Chính ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã ngăn cản chuyện đó. Những chuyện đó, trong giới sử học và trí thức, người ta biết tất cả rồi nhưng vẫn cứ che dấu. Lúc này là lúc cần phải minh bạch rõ ràng để mọi người đựơc biết đựơc đúng sự thật như thế nào.


Trà Mi: Hồi nãy ông có nhắc tới người tác giả ký tên Trần Dân Tiên viết về cuộc đời và nhân cách đạo đức của cụ Hồ cũng chính là HCM. Ông có bằng chứng nào xác thực cho luận điểm này hay không?

Những tài liệu ấy Hà Nội cấm lưu hành, nhưng hiện nay trong giới nghiên cứu thì người ta biết cả rồi. Nhất là trong những tài liệu đựơc công bố ở Trung Quốc của các học giả ở Hoa Nam đã nói về mối tình và đám cưới giữa ông Hồ và bà Tăng Tuyết Minh. Bà Minh sống đến 94 tuổi.

Cựu đại tá Bùi Tín

Cựu đại tá Bùi Tín: Điều này tôi biết từ khi còn ở trong nước. Năm 1990 khi kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông HCM thì chính Viện sử học Việt Nam, chính trên báo Nhân dân, tờ báo của Đảng cộng sản, nói rõ là ông Hồ trong cuộc đời đã dùng đến hơn 30 bí danh khác nhau, trong đó có bí danh Trần Dân Tiên, và khẳng định rõ rằng cuốn “ Những mẫu chuyện về đời sống của chủ tịch HCM” là do chính ông Hồ viết ra.
Cái đó có phải là do ai bịa ra đâu, mà đã chính thức đựơc chế độ cộng sản ở Hà Nội công nhận cơ mà.
Do đó, tôi nghĩ là tuổi trẻ trong nước, nhất là những người nghiên cứu lịch sử, cần phải tìm hiểu cho rõ ràng sự thật, không định kiến, không chửi rủa, nhưng nhận thức cho đúng là có thật chủ nghĩa Mác-Lê là tai hoạ trong hiện thực hay không, cụ Hồ là con người yêu nước mà mang về một học thuyết sai lầm thì nguy hiểm như thế nào.
Đã đến lúc phải tỉnh ngộ mà thay đổi suy nghĩ và từ bỏ nó chứ.

Trà Mi: Xin cảm ơn thời gian ông đã dành cho cuộc phỏng vấn này.


Vừa rồi là quan điểm của cựu đại tá Bùi Tín, cựu đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, người đã trải qua phân nửa quãng đời sống và làm việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thế còn suy nghĩ và cảm nhận của thế hệ trẻ ngày nay về Hồ Chủ tịch ra sao? Mời quý vị đón nghe cuộc hội luận giữa các thanh niên trong và ngoài nước xung quanh đề tài này, trong chuyên mục “Diễn đàn bạn trẻ”, phát thanh vào sáng thứ tư 23/5 tới đây.
Tiếng Việt

© 2007 Radio Free Asia


RFA nói về Hồ Chí Minh, Việt Nam phản đối với Mỹ

Wikileaks
 

Bất bình với một bài phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương về Hồ Chí Minh, Bộ Ngoại Giao Việt Nam triệu tập phó đại sứ Mỹ để phản đối, theo một công điện đề ngày 19 tháng 2, 2009, của Ðại Sứ Michael Michalak chuyển về Bộ Ngoại Giao ở Washington DC.
Công điện này viết:
Phó đại sứ Mỹ được triệu đến Bộ Ngoại Giao Việt Nam hôm 19 tháng 2 để gặp quyền vụ trưởng Vụ Châu Mỹ, Vũ Viết Dũng, để nghe ông này chính thức phản đối việc trang mạng của đài Á Châu Tự Do (RFA) cho đăng bài phỏng vấn bà Dương Thu Hương, tác giả cuốn sách mới về cuộc đời của Hồ Chí Minh.
Ông Dũng nói cuốn sách này ‘bội nhọ’ hình ảnh của Hồ Chí Minh,” bức công điện viết, “và gây phản cảm trong lòng nhân dân Việt Nam. Chính quyền Việt Nam thúc giục RFA hãy rút bài phỏng vấn này ra khỏi trang mạng.”
Phó Ðại Sứ Virginia Palmer khi đó trả lời: “Ngoại Giao Hoa Kỳ không có quyền kiểm soát bài vở của đài RFA,” nhưng đồng thời hứa chuyển lại lời phản đối của chính quyền Việt Nam với Washington.
Ðiều oái oăm là bài viết và bản video phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương không phải do đài RFA thực hiện, mà do ký giả Nguyễn An dịch lại từ bài phỏng vấn bằng tiếng Pháp, do thông tấn xã AFP thực hiện.
Có hai chi tiết chính trong bài dịch của RFA, trích dẫn sách của nhà văn Dương Thu Hương: Ðiều thứ nhất, là “ở lứa tuổi 60, ông Hồ quan hệ và có hai con với một phụ nữ kém ông chừng 40 tuổi.” Người phụ nữ này sau đó bị giết, và theo bà Dương Thu Hương, “xác bị vứt ra đường, giả làm một tai nạn giao thông.”
Về cái chết của Hồ Chí Minh, bà Dương Thu Hương viết rằng ông “tự ý dứt bỏ dây nhợ để chết vào đúng ngày kỷ niệm 2 tháng 9.” Bà gọi đó là “một hành động kiên cường sau cùng chống lại đảng cộng sản.”
Quyền Vụ Trưởng Vũ Viết Dũng trao công hàm chính thức phản đối bài này. Bức công hàm được tòa đại sứ dịch ra tiếng Anh. Bản dịch ngược lại tiếng Việt như sau:
Bộ Ngoại Giao nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có lời chào Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội và lấy làm vinh dự đề cập đến vấn đề sau.
Gần đây, trang mạng của Ðài Á Châu Tự Do có thực hiện trích đoạn tài liệu về hình ảnh của Hồ Chí Minh với tựa đề “Chuyện Ðời Thật của ông Hồ,” với ý đồ cổ xúy một cuốn sách với nội dung xuyên tạc và bôi nhọ hình ảnh Chủ Tịch Hồ Chí Minh.
Hành động này của đài RFA không những làm hoen ố hình ảnh tôn kính của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, mà còn làm tổn thương trầm trọng đến tình cảm của nhân dân Việt Nam, đồng thời gây phương hại đến mối quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ.”
Nguồn: Nguoi-viet.com, tháng 9/2011


 

 

 

Không thể bất công kéo dài đến vậy !

Bùi Tín

Số phận con người: Không thể bất công kéo dài đến vậy!
- Ông nội thật của Hồ Chí Minh.
- Vương Chí Nghĩa là ai?
- Hoa Quốc Phong là con cả Mao Trạch Đông
- Quyền sống bình thường của anh Nguyễn Tất Trung

Tết Mậu Tý đến gần. Người ta thường nghĩ về quê hương, về người thân, về bà con họ hàng, về mồ mả tổ tiên... Thường vào dịp cuối năm, nhiều người tìm ra họ hàng mới, người thân mới. Những khám phá mới, có khi bất ngờ, đến lạ lùng, có trường hợp thú vị, lại có chuyện pha với đắng cay. Nhất là trong những gia đình dòng họ lớn, có tăm tiếng, đã và đang đi vào lịch sử.

Hồ Sĩ Tạo là ông nội Hồ Chí Minh

Đây là tin có thật, do nhà văn Hồ Sĩ Sênh, bút danh Trường Lam, hội viên Hội văn nghệ tỉnh Nghệ An, đưa ra, qua một sáng tác được công bố tại trại viết văn của Hội văn nghệ Nghệ An đầu năm 2007. Trường Lam đã sưu tầm tài liệu khá công phu từ những người thật việc thật có quan hệ chặt chẽ với ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, còn có tên Nguyễn Sinh Huy, nguyên tri huyện Bình Khê, cha đẻ Nguyễn Sinh Côn (Cung), tức là ông Hồ Chí Minh sau này, sau khi bị mất chức do tội ngộ sát, đã vào Nam bộ làm nghề thầy lang khám bệnh bốc thuốc. Điều trên bảo đảm tính chân thật của sự kiện.
Theo tiểu sử chính thức Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Sinh Sắc là con ông Nguyễn Sinh Nhậm quê ở Kim Liên, huyện Nam Đàn. Thật ra ông Nguyễn Sinh Nhậm vợ chết sớm, ốm yếu, nhận lấy cô Hà Thị Hy thường gọi là cô Đèn, "cheo" cô về làm vợ mọn, khi cô đã có mang với ông Hồ Sĩ Tạo; ông Nguyễn Sinh Nhậm đặt tên cho con cô Đèn, sinh vào năm 1863 là Nguyễn Sinh Sắc, nhận là con của mình. Ông Nhậm chết sau đó 3 năm.
Chính ông Hồ Sĩ Tạo mới là người cha huyết thống của ông Nguyễn Sinh Sắc, là ông nội thật sự của ông Hồ Chí Minh. Ông Hồ Sĩ Tạo sinh năm 1834 mất năm 1907, quê làng Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu Nghệ An, đỗ Gỉải Nguyên khoa Mậu Thìn (1868), làm quan, dạy học, có tiếng văn hay chữ tốt cả một vùng Nghệ Tĩnh, tiếng vang trong Kinh, ngoài Bắc, quan hệ xã hội rất rộng. Ông lại hào hoa phong nhã, thích ngâm thơ vịnh nguyệt, mê ca trù, nhiều vợ đông con. Ông yêu mến cô Hà Thị Hy quê làng Sài huyện Nam Đàn, xinh đẹp hát hay; ông lại dạy học ngay trong nhà cô.
Hồng nhan bạc mệnh, người tình của cô Hy tài hoa bao nhiêu thì chồng danh nghĩa của cô là ông Nguyễn Sinh Nhậm yéu kém nhạt nhẽo bấy nhiêu. Ông chết sau khi lấy bà chừng 3 năm; phận làm mọn thời ấy thật cực nhục, cả họ Nguyễn Sinh khinh thị hắt hủi hai mẹ con bà; bà phải bỏ nhà, bỏ con ra đi. May là khi bà chết, có người thương xót mang xác bà về quê và chính ông Hồ Sĩ Tạo lại tổ chức chôn cất và đọc lời điếu cho bà.
Chính ông Hồ Sĩ Tạo đã chăm lo bồi dưỡng cho "đứa con hoang" của mình thành danh, qua gửi gắm ở những học trò cũ của mình đã thành thày giỏi và quan chức có thanh thế trong triều đình, như ông Cao Xuân Dục. Ông Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng năm Tân Sửu (1901), sau đó vào Huế nhận chức Thừa biện bộ Lễ.

Vương Chí Nghĩa : em út của Hồ Chí Minh

Năm 1907, ông Sắc được bổ nhiệm Tri huyện Bình Khê, đến 1911 ông tự gây nạn lớn, khi trong cơn nát rượu ông ra lệnh đánh một số nông dân chậm nộp thuế, làm một người chết. Ông bị kết trọng tội, suýt mất đầu. Tuyệt vọng, bị sỉ nhục, ông rời bỏ kinh đô và quê nhà, đi biệt vào phương Nam, tít vùng sâu Đồng Tháp - Cao Lãnh, tự xưng là Cụ Vương, làm nghề bắt mạch, bốc thuốc.
Một lão nông tên là Mai Nhuận, có cả gia đình hàm ơn cụ Vương cứu mạng trong nạn dịch lớn, tự nguyện gả cô con gái út cho cụ Vương để đỡ đần cụ trong tuổi già cô đơn mà cô gái cũng đỡ vất vả. Mối tình vùng sông nước giữa cụ Vương và cô gái họ Mai đã tạo nên một cậu con trai kháu khỉnh mang tên Vương Chí Nghĩa, sinh năm 1927. Đây là người em út chưa từng biết của ông Hồ Chí Minh.
Vương Chí Nghĩa dời nơi ở lên vùng Tây Nguyên, sống mai danh ẩn tích để giữ an toàn cho dòng họ khi đất nước chưa độc lập, lại chia đôi và chiến tranh. Vương Chí Nghĩa có 2 con trai: Vương Chí Hùng và Vương Chí Việt (sinh tháng 12-1959), cùng 5 con gái, trong đó một người mang tên Hồ Thị Minh Nguyệt đã cùng em là Vương Chí Việt xuất gia đi tu từ năm 1980. Vương Chí Việt mang pháp danh Thượng tọa Thích Chân Quang, hiện trụ trì chùa Phật Quang ở Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tốt nghiệp khoa ngoại ngữ tiếng Anh. Mới đây năm 2007, Thượng tọa đã ra Nghệ An thăm viếng các làng xã quê hương ở Quỳnh Lưu và Nam Đàn, nhận họ hàng với chú bác, anh chị em, con cháu... trong niềm xúc cảm sâu đậm. [Tuy nhiên về ông thầy tu này đang có những nhận định khác nhau từ trong nước (câu này từ Thông Luận)].
Chuyện bên Tàu: Hoa Quốc Phong là con cả của Mao Trạch Đông Lại bắt sang chuyện Tàu. Trước đây vài năm, báo chí Hồng Kông lên tiếng nhiều lần cho rằng Hoa Quốc Phong từng là Thủ tướng Quốc vụ viện Trung quốc, rồi Chủ tịch Đảng CS Trung quốc là con trai ngoài giá thú của Mao Trạch Đông. Từ đó nhiều người bán tín bán nghi, vì trong các triều đình cộng sản, thật với giả, giả với thật cứ lộn nhèo với nhau, nhiều chuyện khó tin nhất có khi lại là thật, có chuyện ngỡ là của thiệt lại là của giả, của dỏm. Gần đây báo chí Hồng Kông khẳng định chuyện trên đây là sự thật 100 phần trăm, và in hẳn cuốn sách nhỏ phát hành nửa công khai trên lục địa, kể đầu đuôi câu chuyện này. Talawas vừa đưa lên mạng. Chuyện rằng năm 1920 khi Mao Trạch Đông 27 tuổi, xây dựng Tổ Thanh niên Cộng sản ở Trường Sa (thủ phủ tỉnh Hồ Nam), có quan hệ với một cô gái họ Diêu. Bố cô gái buôn thuốc lá. Mao và cô gái họ Diêu sinh ra một bé trai ngoài giá thú năm 1921 đặt tên là Hoa Quang Tổ; sau 2 năm cô gái họ Diêu ốm chết. Hoa Quang Tổ được một số gia đình thay nhau nhận nuôi, đổi tên là Hoa Thành Vũ, sau đó là Hoa Quốc Phong. (Một năm sau Mao mới gặp Dương Khải Tuệ và sinh ra con chính thức Mao Ngạn Anh). Ngoài Mao ra, một số lãnh đạo cao nhất của đảng CS Trung quốc như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình... đều biết chuyện này và chú ý đào tạo, nâng đỡ quá trình trưởng thành của Hoa Quốc Phong. Năm 1950 Mao điều Hoa từ tỉnh Sơn Tây về tỉnh Hồ Nam quê nhà, với chức bí thư địa ủy của địa khu Tương Đàm (địa khu là cấp trên của huyện, cấp dưới của tỉnh). Hoa được đưa lên làm Trưởng ban Văn giáo tỉnh, Trưởng ban Mặt trận tỉnh, và đến 1968 vào ban chấp hành trung ương, là Bí thư thứ nhất tỉnh ủy Hồ Nam. Mọi việc đều giữ kín, không cho Hoa biết thân thế thật của mình. Cho đến đầu năm 1966, Mao chỉ thị cho Chu Ân Lai nói rõ cho Hoa biết Hoa là con trai cả theo huyết thống của Mao và chỉ phổ biến trong nhóm lãnh đạo cao nhất, đồng thời chỉ thị cho Hoa "cứ giữ lý lịch như cũ, không thay đổi quan hệ vốn có với Mao, vì lợi ích toàn cục của đảng". Hoa đã phải ký vào văn bản cam kết như thế.
Sau khi Lâm Bưu làm phản tháng 9-1971, Mao điều Hoa Quốc Phong về Bắc Kinh, đưa vào Bộ chính trị, chức vụ là phó thủ tướng, khi Hoa vừa 50 tuổi.
Sau khi Mao chết tháng 9-1976, Hoa Quốc Phong được đưa vọt lên là Chủ tịch ban chấp hành trung ương đảng kiêm Chủ tịch Ủy ban quân sự Trung ương vào tháng 7-1977, cho đến tháng 6-1981 thì bị đưa xuống Phó chủ tịch, Hồ Diệu Bang lên làm Chủ tịch, đến Đại hội XII ( 9-1982) Hoa ra khỏi trung ương, rồi về hưu sau đó ở Hồ Nam.

Hoa Quốc Phong nhiều lần khẩn khoản xin được bạch hoá lý lịch thật, đổi sang họ Mao, nhưng đều bị từ chối, với lý do phải "bảo vệ danh dự của lãnh tụ và của đảng".
Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Hoa Quốc Phong nay 86 tuổi vẫn quan hệ chặt chẽ với Mao Lina, em gái út của mình, nay đã 67 tuổi, con của Mao và Giang Thanh; Hoa hiện sống ở Thiều Sơn, Hồ Nam quê của Mao và tự mình xử sự như người tiếp nối tự nhiên của dòng họ Mao.
Phải đối xử công bằng với anh Nguyễn Tất Trung


Trên đây nói về ông Hồ Sĩ Tạo là người ông nội thật sự của ông Hồ Chí Minh, về Vương Chí Nghĩa là em út cùng cha khác mẹ với ông Hồ Chí Minh, về Thượng tọa Thích Chân Quang (Vương Chí Việt) là cháu gọi ông Hồ Chí Minh là bác ruột, về cả chuyện ông Hoa Quốc Phong nay được biết rõ là con cả theo huyết thống của Mao Trạch Đông... chỉ để nói đến trường hợp anh Nguyễn Tất Trung.
Tất cả những sự thật trên đây đều bị chế độ cộng sản phủ nhận, đi với những sự giả dối và bịa đặt bị cưỡng bức là sự thật. Chế độ độc quyền đảng trị ép mọi người phải hiểu rằng ông nội của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Nhậm chứ không phải là Hồ Sĩ Tạo, rằng ông Hồ chỉ có chị cả là cô Thanh, có bí danh là Bạch Liên, người anh là ông Nguyễn Tất Khiêm, còn gọi là ông Khơm, và em út là Xin chết sớm sau khi sinh vào năm 1904 (Mậu Tuất), chứ không có anh chị em nào khác.


Cô Nông Thị Xuân, sau đổi là Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1932, mất năm 1957. Chụp cuối năm 1956 tại Hà Nội sau khi đẻ Nguyễn Tất Trung [chú thích: Thông Luận]


Một trong những nạn nhân bi thảm kéo dài nhất của kiểu lừa dối trên đây là anh Nguyễn Tất Trung, con của ông Hồ Chí Minh và cô Nông Thị Xuân, một cô gái Tày quê ở làng Nà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Cô được Trần Đăng Ninh, chủ nhiệm hậu cần quân đội chọn rồi đưa về Hà Nội nhằm "phục vụ" ông Hồ. Cô được bộ công an của Trần Quốc Hoàn quản lý, giấu tại ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông thợ nhuộm, để hàng tuần đưa vào phục vụ ông Hồ một hai đêm. Mối quan hệ ấy đưa đến kết quả là cô Xuân cho ra đời vào cuối năm 1956 một cháu bé được ông Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung theo họ cũ của mình (Nguyễn Tất Thành).

Trần Quốc Hoàn nổi tiếng dâm loạn, đã nhiều lần cưỡng hiếp cô Xuân, bị cô chống lại quyết liệt, có cô Vàng là em họ ở cùng phòng với cô Xuân biết rõ. Nhiều lần con quỷ râu xanh này trói cô Xuân vào giường để cưỡng hiếp, hắn còn đe dọa hai cô không được hé môi nói với ai, nhất là không được bẩm báo ông Hồ. Hoàn còn giương súng ngắn đe nẹt hai cô rằng: "chúng mày liệu hồn, đến ông Hồ cũng nằm trong tay tao đây, hiểu chưa?". Thế rồi sau một cuộc cưỡng hiếp cực kỳ thô bạo, tên Hoàn sợ rằng cô Xuân sẽ báo với ông Hồ, Hoàn liền dựng lên một tai nạn xe ô tô trên đường đê gần làng Chèm vào tờ mờ sáng để thủ tiêu cô.
Ông Nguyễn Minh Cần lúc ấy là phó chủ tịch uỷ ban nhân dân Hà Nội đã biết rõ vụ án mạng này, với những biên bản khám mổ tử thi của bệnh viện Việt - Đức. Sau đó cô Vàng bị đuổi về Cao Bằng và "chết đuối" trong một nghi án trên sông Bằng Giang; chồng chưa cưới của cô Vàng khẳng định hung thủ là tay chân của Trần Quốc Hoàn, kẻ sát nhân muốn bịt hết kẽ hở về tội ác của mình.

Những nạn nhân một cuộc án mạng giữa cung đình:

Cô Xuân, cô Vàng, anh thương binh nặng chồng chưa cưới của cô Vàng đều là những nạn nhân của chế độ toàn trị giả đạo đức, hiện còn ngậm đắng nuốt cay dưới suối vàng vì nỗi oan khiên của họ vẫn chưa được làm sáng tỏ; bọn tội phạm bất nhân của một chính quyền đàn áp lấy công an làm nòng cốt vẫn còn lộng hành.
Ở đây, lúc này, toàn xã hội ta cần đặc biệt chú trọng đến số phận, đến nỗi oan khiên đeo đẳng một con người còn sống và gia đình anh, đó là anh Nguyễn Tất Trung, đứa con không được thừa nhận của ông Hồ Chí Minh và cô Nông Thị Xuân.


Vợ chồng Nguyễn Tất Trung và Lưu Thị Duyên cùng con là Nguyễn Thanh Trung (bên phải) tại gia đình ông Vũ Kỳ vào năm 1998; người có râu trắng dài là ông Vũ Kỳ (giữa) [hình: Thông Luận]

 

 Vợ chồng Nguyễn Tất Trung và Lưu Thị Duyên viếng mộ tướng Chu Văn Tấn [chú thích: Thông Luận]

Đã 51 năm nay, hơn nửa thế kỷ, anh Trung sống lay lắt về mặt pháp lý, không có giấy khai sinh thật, không được nhận cha đẻ của mình, không được nhận mẹ đẻ của mình, chưa được một lần thăm mộ và thắp hương trên mộ mẹ; anh không được về quê hương bản quán quê nội cũng như quê ngoại để nhận bà con họ hàng, không được biết, và dù biết cũng không được nhận ai là ông bà, chú bác, anh chị em, con cháu ruột thịt của mình.

Cả cuộc đời anh và đời vợ con anh bị đặt trong thế bất công và phi lý, không có một văn bản pháp lý nào quy định, sống không có căn cước thật, bị xô đẩy, đưa qua chuyển lại tùy tiện theo ngẫu hứng của giòng đời. Trung chỉ được yên ấm trong lòng mẹ Xuân và trong vòng tay êm ái của dì Vàng có vài tháng ngắn ngủi, để rồi côi cút, cô đơn, không hiểu gì cho rõ về cuộc đời mình. Ông Sao Đỏ - Nguyễn Lương Bằng - đưa bé Trung về gia đình được vài tháng trong năm 1957, rồi giao lại cho gia đình tướng Chu Văn Tấn [*] trên Thái Nguyên vài năm. Sau đó, các bà Hội phụ nữ cứu quốc trung ương đưa chú bé vào trại mồ côi của Hội, rồi vào trường Nguyễn Văn Trỗi dành cho con liệt sĩ.

Vào những năm 1967 - 1968, cậu bé Trung thông minh, nhanh nhẹn, bắt đầu tìm hiểu thế giới xung quanh, cũng bắt đầu tò mò về căn cước thật của mình, thì hai đợt ốm nặng ập đến, có lúc tưởng như không qua khỏi. Bóng đen của tên "lưu manh xứ Nghệ" trở thành trùm công an cộng sản - quỷ dâm ô Trần Quốc Hoàn lại hiện ra. Tên này lo sợ bị lật tẩy, đã dùng thủ thuật an ninh cộng sản được thầy Tàu tiếp tay, cho cậu bé uống và tiêm nhiều lần thuốc độc, thuốc lú, gây thần kinh hỗn loạn, khi quên khi nhớ, có lúc như ngớ ngẩn, có khi ngồi thừ vô cảm hàng buổi, mất hẳn sinh khí, như kẻ vô hồn. Ông Hồ mất vào tháng 9-1969 khi cậu Trung vừa ra khỏi cơn ốm dài. Trước khi mất, ông chỉ mong được đi gặp Cụ Mác cụ Lê, quên khuấy còn có đứa con bị bỏ rơi đang băn khoăn về lý lịch thật của mình. Cái may cho cậu Trung là sau khi ông Hồ mất, ông Vũ Kỳ, thư ký riêng lâu năm (từ năm 1948) của ông Hồ đón Trung về gia đình, nhận Trung làm con nuôi, coi như con đẻ của mình, đi học trường phổ thông Chu Văn An cạnh Hồ Tây cùng 2 con ông là Vũ Quang và Vũ Vinh, cùng độ tuổi với Trung. Đây là thời kỳ ổn định, ấm cúng nhất của anh Trung, nhưng bệnh đau đầu dai dẳng không cho anh vào được trường Đại học.
Ông Vũ Kỳ còn quan tâm đến việc lập gia đình cho Trung, và đám cưới được tổ chức khi anh 32 tuổi, vào năm 1988, với cô Lưu Thị Duyên, thuộc một gia đình bình thường. Anh chị có một cháu trai kháu khỉnh, sinh năm 1992, đặt họ và tên là Vũ Thanh, sau đổi là Nguyễn Thanh Trung, vì tuy Trung rất quý ông Vũ Kỳ, nhưng vẫn nuôi ý muốn tìm trở về gốc gác thật của mình.
Trong xã hội Việt nam suốt nửa thế kỷ qua, không có một con người nào sống trong tình trạng cay đắng đặc biệt như anh Trung. Anh bị mất quyền được là mình. Anh luôn phải đeo chiếc mặt nạ. Anh không có cha thật, mẹ thật, anh chị em thật của mình. Anh là người công dân lương thiện cực hiếm trong xã hội không có căn cước thật. Anh không hề có một tội nào dù là nhỏ nhất. Thắc mắc về cội nguồn, anh có chăng? biết hỏi ai cho ra lẽ? Anh tự biết, nếu hỏi với người cai quản anh, có khi mang vạ vào thân. Vì anh có thể lờ mờ hiểu rằng người đẻ ra anh có liên quan đến nhiều vụ án mạng kinh khủng. Anh ngại, anh sợ. Nhiều người biết, và họ thấy ở anh luôn có sự không bình thường; bệnh trầm cảm, phẫn chí, lầm lì, tâm thần bất định... luôn bám chặt anh. Thời minh bạch và hội nhập, sự giải thoát Chúng ta hãy tưởng tượng nỗi hận đời trong lòng anh Nguyễn Tất Trung, khi tâm trí anh đã trở lại gần như bình thường 5, 6 năm nay, như một số anh em trong nước cho biết, sau khi "thuốc lú" độc ác đã tiêu tan với thời gian. Bao nhiêu câu hỏi " vì sao ? ", " vì sao ? " gậm nhấm tâm hồn anh. Vì sao anh lại phải sống u ẩn, trong bóng tối mãi thế này ? Vì sao mình lại không được là mình ? phải mang mặt nạ kỳ quặc mãi thế này? Cái quý nhất của con người là căn cước riêng biệt để phân biệt với mọi người khác đã bị tịch thu vĩnh viễn. Quyền cao quý nhất là quyền được làm một con người, được là chính mình đã bị tước đoạt. Một điều phi lý bất công anh có vẻ không sao hiểu và chịu nổi.


Nguyễn Tất Trung thăm hang Pắc Bó, ngồi bên hòn đá, có ghi: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ngồi tại đây để dịch cuốn Lịch sử đảng CS Liên Xô vào năm 1941 [hình: Thông Luận]

Vợ chồng Trung và Duyên bên dòng suối ở Hang Pắc Bó - Cao Bằng (suối Lê Nin) [chú thích: Thông Luận]  

Vẫn chưa hết. Câu hỏi ai oán nhất làm anh đau xót là về mẹ anh. Anh chỉ có một bức ảnh hơi mờ ảo về người mẹ xinh đẹp và hiền hậu của anh, đôi mắt sáng mà dịu, hàm răng hé trắng, mái tóc bồng, áo len cụt tay tự đan, ảnh quý chụp năm 1956 ngay sau khi sinh anh; nhưng còn thiếu cháy bỏng những di vật có thể còn - bộ quần áo, chiếc gương, lược - , những hiểu biết về ông bà ngoại, về họ hàng thân thuộc ở Nà Mạ hiện còn là những ai để ngày nào đó anh sẽ đưa vợ con anh lên thăm. 

Nỗi ám ảnh lớn là cái chết bi thảm của người mẹ yêu quý của anh đã diễn ra như thế nào vào sáng 12-2-1957 ấy , vì sao? ai là thủ phạm? Mộ mẹ anh ở đâu sau khi mổ tử thi ở bệnh viện Việt - Đức thì người ta mang chôn nơi nào? Có ai chăm sóc nấm mộ thiêng ấy, bao giờ anh và vợ con anh được thăm viếng? Lại còn cái chết bi đát của dì Vàng, mà vòng tay đã ôm ấp anh từ những ngày trứng nước, có phải đã bị giết ngày 2-11-1957 rồi quẳng xuống sông Bằng Giang? Phải chăng, như có người biết, anh vẫn gìn giữ một phiên bản lá thư của anh thương binh chồng chưa cưới của cô Vàng gửi ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội (đề ngày 29-7-1983) để quyết tìm hiểu cho ra sự thật. Bức thư tuyệt mệnh này đã được gửi ra hải ngoại và một bản sao đã được một người bạn chuyển cho anh. Có lần anh đã mạnh dạn tìm đến nhà tướng Ngô Thế Nùng, em rể ông Hoàng Minh Chính để cố hỏi dò về cái chết bi thảm của mẹ anh.
Việc thông tin công khai, nói lên đầy đủ sự thật về Nguyễn Tất Trung nay đặt ra là đã chín muồi. Nỗi hận ấp ủ nửa thế kỷ đến hồi phải được giải tỏa. Vì đất nước đang trong quá trình đổi mới không ai cưỡng lại nổi, tính trong sáng, minh bạch đã được cam kết trước toàn dân và thế giới.
Chia sẻ yêu thương Trước hết những người có lương tâm và tình người trong xã hội ta dễ thông cảm với anh Nguyễn Tất Trung và lòng khao khát của anh tìm hiểu sự thật về mình, vượt lên số phận bất công phi lý do hoàn cảnh khe khắt tạo nên, và sẵn sàng khuyến khích, tiếp sức cho anh bước vào cuộc đời mới, có căn cước thật, được là chính mình.

Được biết anh Trung thường ngồi suy tư hàng giờ, và từng nói với bạn rằng anh đã khóc cạn nước mắt về người mẹ quý yêu, rằng cuộc đời anh chìm nổi tưởng là chết nhiều lần rồi, nay thì phải sống để biết những điều cần biết...
Tôi cùng một số bạn mạnh dạn đưa câu chuyện về anh Trung và gia đình vì thông cảm sâu sắc với hoàn cảnh của anh, trên trách nhiệm con người đối với con người, không ai có quyền dửng dưng với một số phận éo le, cô đơn, có vẻ bế tắc như thế, để tiếp sức nghị lực cho anh đứng dậy là chính mình giữa thanh thiên bạch nhật. Anh rất ham tin tức trên đời, hằng ngày đọc các bản tin trên mạng. Anh thông minh, tư duy đã hồi phục, tự mình biết cách " ra công khai " như thế nào và từ đó làm chủ đời mình, không cần ai chỉ vẽ, o ép.
Thật ra tôi đã có lòng cảm mến anh thanh niên Nguyễn Tất Trung từ gần 20 năm nay. Vào năm 1989 tôi hay ghé qua nhà ông Vũ Kỳ, khi ấy đang là Giám đốc bảo tàng Hồ Chí Minh. Ông Kỳ và tôi lúc ấy rất không hài lòng khi thấy họ xoá bỏ ba đoạn của di chúc ông Hồ Chí Minh, các đoạn nói về: mở ngay cuộc kiểm điểm sau toàn thắng để phòng ngừa bệnh kiêu ngạo; giảm một năm thuế nông nghiệp để "thư dân"; làm "hỏa thiêu".
Tôi đặt và đăng bài viết của ông Vũ Kỳ trên báo Nhân Dân Chủ nhật phơi bày ba điểm ấy, buộc họ phải đưa ra Quốc hội, công bố lại "toàn bộ di chúc", đưa công khai bản chụp nguyên si cả tập di chúc, ra nghị quyết giảm thuế nông ngiệp 50% trong 2 năm. Ông Kỳ và tôi bị ban bí thư lên án là vô kỷ luật, bị triệu tập đến "làm việc với lãnh đạo" ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân, cứ như một phiên tòa. Sau đó tôi hay ghé chơi nhà ông Kỳ, và gặp cả ba cháu Quang, Vinh và Trung ở đó. Quang và Vinh người mập mạp như ông Kỳ, còn Trung thì gầy, cao, rất xinh trai. Vợ Trung là cô Duyên cũng xinh, trắng, giản dị; hai vợ chồng đã ở riêng, đang cố chữa bệnh để mong có con. Hai vợ chồng vẫn thường về thăm ông Vũ kỳ và gia đình.
Tôi cũng được biết tháng 4-2005, khi ông Vũ Kỳ ốm nặng nằm trong bệnh viện Việt - Xô sát bờ sông Hồng, Trung luôn thay phiên với Quang và Vinh túc trực bên cạnh bố; khi ông Kỳ mất, Trung cũng mặc áo xô, chống gậy, đội mũ rơm trong lễ tang.

Vì bị bệnh, học không đến nơi đến chốn, nên Trung khó kiếm việc làm. Có lúc làm giữ kho, bảo vệ công xưởng. Khi sức khỏe khá, hai vợ chồng mở quán cà-phê, ở sau ga Hàng Cỏ - Hà Nội, rồi dời về cổng trường Đại học Bách khoa. Có lúc gia đình anh ở số nhà 31 phố Lê Thanh Nghị, có lúc ở tại Phòng 102- Khu tập thể Ủy ban khoa học nhà nước trong ngõ Thịnh Hào 1. Lâu nay anh được tự do tiếp bè bạn hơn trước, không khí chung của xã hội dễ thở hơn, tính công khai minh bạch và quyền tự do công dân được khẳng định dần.
Trước đây, thế lực an ninh luôn vây bủa, kiềm chế cuộc sống của gia đình Trung, kiểm tra mọi mối quan hệ, vừa đe dọa vừa mua chuộc. Gần đây, kinh tế khá lên, họ cấp cho nhà khá rộng, rồi phong lên là sĩ quan trong danh sách, nhận lương cấp thượng tá, cốt để vợ chồng tránh những quan hệ xã hội rộng rãi khó kiểm soát.
Nhưng không gì quý hơn tự do, nhân phẩm của một con người.
Con người luôn nhận trách nhiệm với chính bản thân mình trước hết.
Khi cuộc sống anh Nguyễn Tất Trung khá lên, tiền không thiếu, có xe cộ khá sang thì anh lại càng có vẻ băn khoăn thao thức; thì ra tiền không mua được sự yên tĩnh của tâm hồn, anh có vẻ bứt rứt: tại sao cuộc đời che giấu, mang mặt nạ mãi của anh lại không đến lúc chấm dứt, để anh được là anh với căn cước chân thực đàng hoàng, sống tự do, thoải mái, hồn nhiên trong quãng đời còn lại của mình.
Cả đại gia đình người Việt trong và ngoài nước sẽ hết lòng chia sẻ yêu thương với anh và chị Duyên cùng gia đình và tận lực giúp anh, che chở anh khi cần.
Có kẻ sẽ lại vu cáo tôi là nói xấu chế độ, có âm mưu lật đổ và phá hoại.
Tôi chỉ có lòng dạ ngay thật, trọn vẹn với nhân dân, kiên định niềm tin vững chãi rằng sự thật, chỉ có sự thật mới cứu vãn được đất nước này khỏi sự dối trá, đạo đức giả và tội ác, xây dựng mối quan hệ ngừơi với người là bạn, là anh chị em trên tình nghĩa đồng bào thân thiết.
Không có bí mật quốc gia nào, không có danh dự của một phe đảng nào có thể viện ra để chà đạp nhân thân, thủ tiêu căn cước thật, quyền làm người trọn vẹn của một công dân sinh ra đã bình đẳng tuyệt đối với mọi con người khác dưới ánh mặt trời.

Giáp Tết Mậu Tý 2008
Bùi Tín
[*] Thượng tướng Chu Văn Tấn người dân tộc Nùng ở Bắc Sơn, Tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu Việt Bắc, Phó chủ tịch Quốc hội, sinh năm 1910, mất năm 1984, bị lột hết chức vụ năm 1978 vì "tội" làm gián điệp cho Tàu không có xét xử; khi chết không được chôn ở Nghĩa trang Mai Dịch, mộ trong ảnh ở Thái nguyên, mấy người đứng quanh là mật vụ công an luôn theo dõi những người đến thăm mộ. [chú thích: Thông Luận]

DCVOnline - Ngày: 08/09-02-2008
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4640Ý kiến Bạn đọc
(DCVOnline không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ bạn đọc)
(Chúng tôi chọn một số ý kiến của bạn đọc để đăng lại trong phần sau. xtt)

Re: Không thể bất công kéo dài đến vậy (I)
2008-02-08 00:57:12
Minh Duc
Trích: Mao và cô gái họ Diêu sinh ra một bé trai ngoài giá thú năm 1921 đặt tên là Hoa Quang Tổ; sau 2 năm cô gái họ Diêu ốm chết. Hoa Quang Tổ được một số gia đình thay nhau nhận nuôi, đổi tên là Hoa Thành Vũ, sau đó là Hoa Quốc Phong.
Chuyện Hoa Quốc Phong là con Mao Trạch Đông thì những người Hoa ở Sài Gòn sau 1977, khi thấy bức hình vẽ Mao ngồi cầm tay Hoa Quốc Phong ân cần dặn "giao cho đồng chí thì tôi rất an tâm" đã bàn chắc Hoa Quốc Phong là con của Mao vì khuôn mặt Hoa Quốc Phong có những nét giống Mao. Điều này nay đã được chứng minh là đúng. Lúc đó, những người Hoa đoán Hoa Quốc Phong là con Mao có lẽ họ nghĩ thế vì theo ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, từ xưa đến nay làm vua cha truyền con nối.
Xem ra ảnh hưởng của văn hóa lưu truyền lại rất lâu và rất khó tẩy xóa. Các lãnh tụ CS là những người chủ trương xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng văn hóa cũ vì đó là tàn tích của chế độ phong kiến để xây dựng chế độ hoàn toàn mới, hoàn toàn tốt đẹp, không dính dáng gì đến cái cũ cả. Nhưng nhìn lại "triều đình" Mao và "triều đình" Kim, Mao Trạch Đông truyền ngôi cho con, Kim Nhật Thành truyền ngôi cho Kim Chính Nhật thì thấy chính các ông lãnh tụ chủ trương làm cách mạng xóa bỏ triệt để văn hóa cũ thì bản thân các ông cũng vẫn bị ảnh hưởng của văn hóa cũ ám ảnh, và các đồng chí đi theo các ông cũng chẳng khá hơn.
Nhìn sang các nước khác thì Ấn Độ tuy là theo chế độ dân chủ nhưng khi ông thủ tướng Nerhu chết thì con gái ông ta là bà Indira Ghandhi lên làm thủ tướng, mặc dù theo đúng thể thức dân chủ. Khi bà Indira Ghandhi chết thì con trai của bà ta lên kế ngôi, khi con trai của bà ta chết thì đảng cử vợ của con trai bà ta lên thay. Chẳng lẽ một nước đông một tỉ dân mà không tìm ra một nhân tài khác thay thế hay sao? Họ vẫn bị ảnh hưởng của chế độ phong kiến, cha truyền con nối. Vì thế, nước Ấn Độ theo đường lối kinh tế chỉ huy, mang nhiều khuyết điểm, từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến thập niên 1980 mà chẳng thay đổi, ông thủ tướng mới ngày nay lên mới thay đổi được.
Nhìn qua Pakistan tuy cũng gọi là chế độ dân chủ nhưng khi bà Bhutto chết thì đảng của bà ta lại cử con trai của bà ta, là một anh sinh viên trẻ, chẳng có kinh nghiệm gì về chính trị lên thay. Chẳng lẽ hàng nghìn ông già trong đảng đó không ai giỏi hơn cái anh sinh viên con bà Bhutto sao? Cũng lại vì ảnh hưởng của chế độ phong kiến cha truyền con nối.
Hóa ra, dù dân chủ hay độc tài, cộng sản hay tư bản, cái ảnh hưởng của văn hóa cũ nó vẫn dai dẳng theo đuổi.

    Re: Không thể bất công kéo dài đến vậy (I)
    2008-02-08 17:07:05
    Người Qua Đường
    Kể từ khi khối CS âu châu tan rã, lý thuyết mác-lê không còn hấp dẫn, CS Tàu cũng như CS Việt phải thay đổi, từng bước tách ra khỏi hào quang của giai cấp vô sản. Song song với sự chuyển đổi từ kinh tế chỉ huy XHCN sang kinh tế thị trường, chúng ca ngợi trí thức, người giàu có...
    Ở VN, đảng CS dần dần lãng quên giai cấp nông dân, không còn dùng chiêu bài "bần cố nông" để khích động đấu tranh vì thành phần này không còn nhiều giá trị trong một nền kinh tế thị trường.
    Tuy nhiên, để có thể tiếp tục thổi phồng thần tượng HCM, đảng CSVN từ lâu đã cố ý đưa thân thế của "Nguyễn sinh Cung" vào với "Hồ sĩ Tạo," thuộc giới quan lại khoa bảng được ngưỡng mộ; biến HCM thành Phật bằng cách đưa tượng HCM vào chùa...
    Tôi không hiểu ông Bùi Tín có ẩn ý gì khi đem chuyện cũ về thân thế HCM này, nói là phát hiện năm 2007 ở hội văn nghệ tỉnh Nghệ an với tác giả Trrường Lam? Thực ra câu chuyện này một thời đã được bàn tán rộng rãi trên mạng, khởi đầu từ một bài viết của ông Trần Quốc Vượng, cố giáo sư sử học, vào năm 1993 trong tác phẩm "Trong Cõi."
    NGUỒN: Gs Trần Quốc Vượng [dactrung.net]
    Có phải đây là một âm mưu mới của đảng CSVN mà ông Bùi Tín đang chuẩn bị phát động?

Re: Không thể bất công kéo dài đến vậy (I)
2008-02-08 01:02:14
Minh Duc
Trích: Vương Chí Việt xuất gia đi tu từ năm 1980. Vương Chí Việt mang pháp danh Thượng tọa Thích Chân Quang, hiện chủ trì chùa Phật Quang ở Bà rịa - Vũng tàu, đã tốt nghiệp khoa ngoại ngữ tiếng Anh. Mới đây năm 2007, Thượng tọa đã ra Nghệ An thăm viếng các làng xã quê hương ở Quỳnh Lưu và Nam Đàn, nhận họ hàng với chú bác, anh chị em, con cháu... trong niềm xúc cảm sâu đậm.
Ông Thích Chân Quang này là ông đi giảng đạo gọi Hồ Chí Minh là "thiền sư Hồ Chí Minh".
Chuyện Thích Chân Quang là em Hồ Chí Minh này có lẽ cần phải kiểm chứng lại cho chắc chắn vì biết đâu chuyện này chỉ là sản phẩm bịa đặt để nâng cao uy tín ông Thích Chân Quang. Có lẽ phải đem ông Thích Chân Quan ra thử DNA để xem có nét gì giống DNA của ông Hồ Chí Minh và ông Nguyễn Sinh Sắc hay không.

    Re: Không thể bất công kéo dài đến vậy (I)
    2008-02-08 06:58:56
    Sean Nguyen
    "Thích Chân Quang là em Hồ Chí Minh"
    Là em hay là cháu như ông ấy tự nhận?

      Re: Không thể bất công kéo dài đến vậy (I)
      2008-02-08 10:05:04
      Khanh-Phong
      Ông Thích Chân Quang là cháu kêu ông Hồ Chí Minh bằng bác . Vợ bé của ông Nguyễn Sinh sắc là cô Mai còn nhỏ tuổi hơn Hồ Chí Minh .
2 vợ chồng Trung và Duyên bên dòng suối ở Hang Pắc Bó - Cao Bằng (ông Hồ đặt tên cho suối này là suối Lênin, cạnh đó là núi Mác)
       

Về nhân vật Hồ Chí Minh
» Tác giả: Bùi Tín
» Dịch giả:
» Thể lọai: Tài liệu
» Số lần xem: 12350
1. 1
(Bài viết nhân đọc sách của Pierre Brocheux và William J. Duiker)

Hồ Chí Minh là nhân vật của thế kỷ 20 được đông đảo người đương thời biết đến, cũng là nhân vật bị tranh cãi nhiều nhất, với những nhận định trái ngược nhau.

Ở trong nước, mặc dầu Đảng CS đã thực hiện đổi mới và mở cửa, tệ sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh vẫn còn được duy trì, nó còn được tô đậm hơn với sự đề cao «tư tưởng Hồ Chí Minh» nhằm củng cố tính chính đáng của đảng cộng sản hiện tại khi uy tín của đảng bị giảm sút nặng nề. Họ còn lệnh cho Phật Giáo quốc doanh phong ông làm "bồ tát": Bồ Tát Hồ Chí Minh!

Năm 2000 tôi đã có dịp viết về HCM trên tuần báo TIME trong số đặc biệt dành cho 100 nhân vật châu Á có ảnh hưởng nhiều nhất trong thế kỷ 20. Từ đó, tôi vẫn để nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tài liệu, đọc và suy nghĩ về HCM, nhằm giúp cho các bạn trẻ VN ở trong nước cũng như ở ngoài nước hiểu rõ, hiểu đúng nhân vật lịch sử này, với thái độ khoa học, công bằng, không bị tô hồng hay bôi đen tùy theo động cơ chính trị hay nhu cầu tình cảm …

Tôi đã chăm chú đọc cuốn HO CHI MINH của giáo sư sử học Pierre Brocheux ở Université Paris VII do Presses de Sciences Po xuất bản năm 2.000, dày 236 trang.

Tôi đặc biệt đọc kỹ cuốn HO CHI MINH – a life , của nhà nghiên cứu Wiliam J. Duiker, 696 trang, 26 chương, đó còn là vì tác giả có nhã ý cho tôi xem trước bản thảo, nhưng tôi không kịp góp ý vì quá bận vào những năm trước 2.000. Tôi đã ngả mũ chào kính phục W.J.Duiker tháng 1/2001 khi gặp ông ở Paris, vì ông đã để công thu thập tài liệu về HCM suốt 30 năm, đi đi lại lại nhiều lần sang Paris, Luân đôn, Mạc tư khoa, Hồng Công, Bắc kinh…, gặp biết bao nhân vật, khui biết bao hồ sơ mật để viết nên cuốn tiểu sử đồ sộ, độc đáo, hấp dẫn ấy.

Thế nhưng,tôi muốn góp ý với tác giả W.J.Duiker về một điểm, chỉ về một điểm thôi!

Nhưng tôi thận trọng. Thế là tôi để thêm hơn một năm trời - từ đầu năm 2001 đến giữa năm 2002 - chỉ để đọc lại toàn bộ 12 tập Hồ Chí Minh Toàn tập, do Nhà xuất bản chính trị Quốc gia ở Hà nội xuất bản năm 1994. Để cho việc góp ý của tôi có cơ sở vững chắc.

Với bài này, tôi không chủ ý đề cập đến chuyện riêng tư của ông Hồ, cho dù chuyện này ở trong nước có rất nhiều người quan tâm, coi là chuyện lạ, giật gân; nhóm lãnh đạo, ngành tư tưởng, và ngành an ninh trong nước cũng rất lo sợ về những chuyện riêng ấy, vì đã trót loan truyền rất đậm cái hình ảnh hiền triết, tu thân khổ hạnh của Bác, cúc cung tận tuỵ triệt để cho cách mạng, đến mức không có một bóng dáng phụ nữ nào trong đời riêng ! Vậy thì nay muốn dịch và in sách này ở trong nước ắt phải yêu cầu tác giả Duiker dẹp bỏ đi tất cả các mối quan hệ tình cảm có thật hay còn nghi vấn của «ông Thánh», chuyện ông cưới vợ Tàu ở Quảng Châu, ông mê cô đầm Pháp ở Paris, ông có người tình ở Nga, ông yêu cô đồng chí Minh Khai và sống chung như vợ chồng ở Moscou, chuyện ông có con riêng…; tác giả W.J.Duiker đã từ chối yêu cầu trên và trả lời: muốn dịch phải để nguyên. Đối với riêng tôi, các chuyện về đời tư nói trên chẳng mấy quan trọng, nó còn cho thấy ông Hồ cũng là con người như mọi người. Có nhiều điều hệ trọng hơn nhiều.

Pierre Brocheux trong cuốn HO CHI MINH, nhận xét về cuốn sách của Duiker rằng : l’historien américain a rassemblé une masse impressionnante de matériaux primaires, de travaux anciens aux plus récents, de toutes provenances : vietnamiennes, françaises, anglo-américaines, australiennes, chinoises et russes. Il a choisi de dérouler cette biographie en 26 chapitres d’une narrative history extrêmement dense. Cependant, récit événementiel et analyse sont entremêlés : toutefois, la profusion d’ informations et d’ événements est telle que, parfois les arbres font perdre de vue la forêt ! (page 75) ; (quá nhiều tài liệu xen lẫn với quá nhiều sự kiện làm cho nhiều lúc cây cối che mất toàn cảnh của cánh rừng !). Tôi cho đây là một nhận định xác đáng.

Toàn cảnh cánh rừng ra sao ? Đây chính là vấn đề cần làm rõ.

Ông HCM là người lãnh đạo cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, rồi của nước Công hoà XHCN VN, cũng là lãnh tụ cao nhất của Đảng CS - đảng duy nhất lãnh đạo, từ năm 1945 đến năm 1969 (tròn 24 năm). Hành động, tư tưởng, tài năng của ông tất yếu để lại dấu ấn sâu đậm trong cuộc sống của xã hội, đất nước , về thành công cũng như về thất bại, về thành đạt cũng như về thiếu sót, mặt tích cực cũng như về mặt tiêu cực.

Thành tựu nổi nhất, rõ nhất, đó là dành lại được nền độc lập dân tộc, xoá bỏ ách cai trị của phát xít Nhật, thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai thực dân Pháp. Tuy nhiên vấn đề này còn có thể tranh cãi vì ông Hồ đã (kể từ năm 1950) ngày càng dựa vào sự chi viện, ủng hộ về chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính của 2 nước CS lớn nhất là Trung Quốc và Liên Xô, từ đó trực tiếp đưa VN gắn chặt vào phe XHCN do Quốc tế Cộng Sản lãnh đạo, do đó đối lập với thế giới dân chủ. Trong thành tựu nổi bật này, ông Hồ từ khi hoạt đông chính trị đã luôn nhằm vào mục tiêu dành độc lập; ông đã vào đảng CS Pháp khi thấy đảng này ủng hộ có chủ trương giải phóng các nước thuộc địa khỏi ách cai trị thực dân của các nước đế quốc; ông đã khóc vì xúc động khi khám phá ra trong bài viết của Lènine có nói về thái độ đảng CS đấu tranh xoá bỏ chủ nghĩa thực dân; ông đã cùng các bạn VN viết Bản án chủ nghĩa thực dân để đưa yêu sách này cho Hội Quốc liên ở Versailles; ông đã dựng lên báo Paria ở Pháp, cùng với các bạn Guinée, Tunisie, Maroc, Ân độ, Nam Dương … đấu tranh đòi độc lập cho các nước thuộc địa. Ông đã viết kịch Con rồng tre để lên án ông vua bù nhìn Khải Định khi ông này sang thăm Pháp. Ông đã vẽ nhiều tranh biếm hoạ đả kích bọn thực dân ngồi trên xe kéo do dân Annam nghèo khổ kéo, bọn cai đồn điền đánh đập phu cao–su…Trong các bài viết, tranh vẽ ấy bốc lên lòng căm thù bọn thực dân, đồng cảm với đồng bào và dân thuộc địa bị đày đoạ tủi nhục.

Theo tôi, mặt yếu trong tư duy chính trị của ông, cái lỗ hổng đáng tiếc trong lập trường chính trị của ông là sau khi dành lại nền độc lập rồi thì xây dựng đất nước theo mô hình nào? quản lý đất nước theo những nguyên tắc nào? Hầu như trong ngôn từ chính trị của ông, trong Toàn tập Hồ Chí Minh 12 quyển dày cộp, vắng bóng một loạt các từ của thời đại: xã hội công dân (société civile); bầu cử tự do, tranh cử; nền tư pháp công bằng, lấy luật pháp làm chuẩn; vị trí của cá nhân trong xã hội; quyền tư hữu của công dân được xã hội và luật pháp công nhận; tính bất khả xâm phạm về thân thể, về tài sản của cá thể, của tư nhân …

Nói gọn lại, trong tư duy chính trị của ông Hồ, khái niệm tự do, dân chủ tuy có được đề cập đến không ít, nhưng nội hàm của 2 từ ấy chưa mang những nội dung phổ cập, đầy đủ, cần thiết, tiến bộ nhất.

Những khiếm khuyết và bất cập ấy giải thích đầy đủ những hạn chế của cuộc sống Việt nam, những thiếu vắng, bất cập về xã hội, văn hoá và nhân sinh của con người Việt nam, và cả những bi kịch, đau thương của người Việt nam trong cả một thời gian lịch sử dài, từ giữa thế kỷ trước đến tận bây giờ.

Đó là một xã hội không còn thực dân và phong kiến, không còn toàn quyền, công sứ, không còn vua quan, lý trưởng và cường hào, nhưng lại là một xã hội đoàn ngũ hoá, gần như trại lính hoá, tinh thần tập thể ngự trị, rất ít chỗ cho tài năng và sáng kiến cá nhân được nảy nở và đua tài. Đó là một xã hội khép kín, gần như không có liên lạc, trao đi đổi lại với các xã hội láng giềng (người công dân thường hồi ấy không một ai có điện thoại riêng, hầu như không được tự do gửi thư ra nước ngoài, không ai được nói chuyện với người nước ngoài). Đó còn là một xã hội nghiêm khắc và khắc khổ, chỉ được ca ngợi lãnh tụ, đảng và nhà nước, chỉ được hát những bài hát quy định, chỉ được sáng tạo theo một lý luận, bút pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, đi trệch hướng chính thống thì lập tức bị huýt còi, bị trừng phạt, bị kiểm thảo, kể cả bị tù đày, xiềng xích không cần xét xử.

Đó là một đất nước hầu như không có tự do công dân, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do bầu cử, theo tiêu chuẩn bình thường của thế giới đương đại; còn thấp kém hơn xã hội thuộc địa dưới thời Pháp thuộc, khi báo chí tư nhân được xuất bản, khi có toà án xử theo luật chứ không theo chỉ thị, mức án được định trước khi xét xử, có luật sư tư và trường đại học luật khoa. Ông Hồ không thể không biết rõ những khiếm khuyết và bất cập ấy nhưng ông tỏ ra hoàn toàn yên lòng về nó. Chiến tranh không đủ được coi là lý do tạm thời cho những lỗ hổng ấy, vì hoàn cảnh miền Bắc có thời gian hoà bình và ổn định khá rõ rệt, có đủ điều kiện để xây dựng một chế độ dân chủ pháp quyền tiến bộ, ngang tầm trung bình của thời đại.

Ông Hồ biết rất rõ những bi kịch cá nhân bi đát của giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, tiến sỹ văn học và luật học từ nước Pháp về, Giáo sư, Viện trưởng Viên Đại học Hànội, Uỷ viên đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc bị tước mất mọi chức vụ, bị cấm cả dạy tư, chỉ vì dám lên tiếng phân tích những sai lầm của đảng CS trong Cải cách ruộng đất (ông phải bán sách quý theo cân cho người mua giấy vụn; nuôi một gà mái lấy trứng lần lượt cho vợ ốm, con gái gầy còm và bản thân suy sụp); của giáo sư triết học Trần Đức Thảo từ Pháp trở về bị ra rìa vì ương bướng không phục tùng đảng; hơn 30 văn nghệ sỹ đòi tự do sáng tạo trong vụ Nhân văn Giải phẩm bị cải tạo lao động và xỉ nhục; rồi hơn 20 nhà chính trị (có cả 4 vị uỷ viên trung ương đảng), có cả tướng, đại tá, nhà văn, nhà báo…trong vụ án xét lại vu vơ; cho đến số phận phi lý của ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký riêng của cụ Hồ từ hồi 1945, đi cùng cụ Hồ sang Pháp năm 1946, người đảng viên cộng sản gần "Bác" nhất, cùng chung một chi bộ đảng 20 năm liền, bị bắt, bị tù 8 năm không xét xử cũng vì cái tội vu vơ « xét lại » ; bà Phạm Thị Tề vợ ông, cũng đảng viên CS kỳ cựu, gửi nhiều thư cho "Bác" , xin gặp "Bác", chỉ cần ‘’Bác‘’ phán cho một lời để cứu một người từng phục vụ sát mình hơn 20 năm liền bị oan ức, vậy mà không một hồi âm ! "Bác" nhìn đi nơi khác, không chút bận tâm ! Cũng như khi ông Hoàng Quốc Việt năm 1953 ở Việt Bắc làm thí điểm Cải cách ruộng đất tại Thái Nguyên chạy đến gặp "Bác" xin can thiệp vì các cố vấn Tàu đòi xử bắn bà Nguyễn Thị Năm bị chụp mũ là địa chủ ác bá, dù bà có 3 con trai đi bộ đội, từng nuôi nhiều cán bộ CS thời bí mật…, "Bác" chỉ ừ ầm cho qua chuyện rồi câm tịt, bỏ mặc!

Hèn gì, Học viện chính trị quốc gia ở Hà nội vốn là học viện Nguyễn Ái Quốc vẫn giải thích câu châm ngôn trứ danh của HCM : Không có gì quý hơn Độc lập Tự do, rằng theo truyền thống của châu Á ( ! ), ý của từ tự do là tự do chung của dân tộc, của đất nước, chứ không có nghĩa là tự do của cá nhân ! (tư do cá nhân là của phương Tây).

Theo tôi, phải là người VN, từng sống dưới sự lãnh đạo của đảng, của lãnh tụ cao nhất, từng "subir" sự lãnh đạo ấy, chịu đựng nó bằng cuộc sống hàng ngày, rồi suốt cả đời, bằng máu thịt của mình, mới có thể cảm nhận và viết nên những nhận định chân thật nhất, sinh động nhất về cái gọi là tiểu sử Hồ Chí Minh.

Những lỗ hổng đáng tiếc, những thiếu sót trầm trọng, những bất cập mang tính bi kịch trên đây mà cả xã hội VN gánh chịu trong nửa thế kỷ, nhà nghiên cứu công phu W.J.Duiker không tìm thấy trong các kho tư liệu hiếm, nhưng nó vẫn in đậm trong cuộc đời của triệu triệu con người VN. Một xã hội đến nay tự do tư tưởng, báo chí, ngôn luận vẫn còn là xa xỉ, xa vời, mang đậm nét gia tài tinh thần mà HCM để lại, để những người lãnh đạo hiện nay cố tình ôm giữ, nhằm cầm giữ toàn xã hội trong cái khung chật hẹp của một đảng duy nhất, một học thuyết duy nhất, một mô hình xã hội duy nhất.

Cần nhìn thật rõ cái lỗ hổng toang hoác ấy, để các nhà tư tưởng mới, thế hế lãnh đạo mới, lớp trí thức trẻ hiện tại hiểu trách nhiệm của mình là sắn tay áo phấn đấu đưa đất nước tiến lên ngang tầm với mức phát triển trung bình về chính trị của thế giới, chưa nói đến tầm cao hay đỉnh cao trí tuệ nào! Nếu muốn thoát cảnh chậm tiến nhất về cả kinh tế, đời sống và phát triển ở Đông Nam Á, châu Á và thế giới.

Xin thông cảm cho người không còn trên đời này. Chớ nặng lời làm gì. Hãy cho người đã khuất yên nghỉ. HCM sinh từ cuối thế kỷ 19, khi chết, HCM chưa biết gì đến computơ cá nhân, đến điện thoại di động, đến toàn cầu hoá, đến kết thúc chiến tranh lạnh … Khi ở châu Âu từ 1911 đến 1923, HCM như chỉ có một ý nghĩ, một chủ định dành độc lập cho đất nước, không chú ý gì nhiều đến nền dân chủ nghị viện, đến một mô hình dân chủ nào đó, vì cho rằng giải được bài toán độc lập thì rồi mọi bài toán khác sẽ trôi chảy. Thế rồi cả cuộc đời còn lại ở ngoài nước, suốt từ 1923 đến 1942, 1943 là dưới trướng của Staline và của Mao Trạch Đông, mà HCM tôn thờ ngay là lãnh tụ vĩ đại "Bác bảo đảm với các chú các cô rằng 2 vị này không bao giờ phạm sai lầm" (HCM : nói chuyện tại Đại hội ĐCS lần thứ II, tháng 1/1951). Các học giả nước ngoài viết tiểu sử HCM, nên tìm đọc cuốn «Những kinh nghiệm tiến nhảy vọt của TQ» ký tên Trần Lực – một bút danh của HCM - do nhà xuất bản Sự Thật của ĐCS in năm 1958, trong đó HCM ca ngợi hết lời những sáng tạo nấu thép trong sân nhà nông dân và đuổi chim bằng hò hét, trống kèn khắp cả nước Tàu để bảo vệ mùa màng, cũng như nhảy ương ca trên thảm lúa cao sản. Cái nhìn nhẹ dạ ngây ngô hay sự đồng loã thêu dệt đối với nhà phù thuỷ Tàu họ Mao ? Thế là với niềm tin sắt đá như thế, HCM bê nguyên mô hình Liên Xô và Trung Quốc cộng sản vào để xây dựng miền Bắc, rồi cứ thế cho cả nước thống nhất!

Cuối cùng tôi xin gợi ý các nhà học giả từng viết tiểu sử HCM – như Pierre Brocheux, như William J. Duiker, và những bạn khác đang có dự định ấy, hãy để chút thì giờ đọc và suy nghĩ về một bản tiểu sử HCM rất độc đáo, do một nhà văn trong nước VN còn rất trẻ viết và được đăng công khai để bị cơ quan an ninh của chính quyền truy tìm để huỷ ngay 4 ngày sau đó, để rồi lại được dân tò mò tìm đọc nhiều hơn. Nó vẫn còn được dấu kín. Nó chỉ là bài báo báo nhỏ, với đầu đề: Linh nghiệm, chỉ vừa một ngàn từ, mà gói gọn cả một đời người HCM, nguồn gốc gia đình, tham vọng, ảo tưởng, sự mù quáng dai dẳng và kết quả xã hội của sự nghiệp con người ấy. Trần Huy Quang kể lại đã ôm ấp viết tác phẩm nhỏ bé ấy suốt hơn 10 năm, nghiền ngẫm, cân nhắc từng chữ, từng câu, từng hình ảnh, rồi tính toán mưu kế để nó vượt qua lớp lớp kiểm duyệt, chào đời trên tờ báo Văn Nghệ, cơ quan của Hội nhà văn chính thống, trong nỗi sung sướng cùng cực mà lo âu cũng vô hạn của tác giả, của bạn thân và vợ con anh.

Tôi nghĩ bản "tiểu sử" HCM, bé hơn bàn tay này của một công dân VN loại 2, một nhà văn trẻ thông minh, là một bổ sung không thể thiếu cho những công trình đồ sộ như của W.J.Duiker, tạo nên bức chân dung đầy đủ và trung thực - phối hợp con mắt khách quan với cái nhìn chủ quan của người trong cuộc, của nhà sưu tầm tài liệu với người chịu trận, của người khảo cứu bằng lý trí lạnh lùng và người trái tim đập thình thịch khi sáng tác - về nhân vật lịch sử HCM có nhiều tranh cãi và vẫn còn không ít bí hiểm này.


Bùi Tín
Paris, tháng 5/ 2003.

2007-12-06 05:30:45
 
 

 

No comments:

Post a Comment